|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 877/2024/HS-PT Ngày 28/10/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Nguyễn Phan Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 854/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm 1991 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Công an huyện N; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Ngô Thị P và có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự; Không; nhân thân: Ngày 29/3/2024, Công an huyện N xử phạt 8.000.000₫ về hành vi điều khiển xe quá hạn đăng kiểm và không sang tên xe; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Ông Lê Đình N, sinh năm 1953; nơi cư trú: Phố T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 08/6/2023, Nguyễn Văn D (nguyên là Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH Công an huyện N) điều khiển xe ô tô BKS: 36D-010.10 lưu thông trên đường H theo hướng huyện T đi thị trấn N, huyện N.
Khi D điều khiển xe ô tô đến địa phận khu phố H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì đâm va vào phía sau xe mô tô BKS: 36K6-1111 do anh Lê Tiến D1 điều khiển và xe mô tô BKS: 36R2-9067 do anh Quách Minh K điều khiển, đang đi phía trước cùng chiều với D. Sau khi đâm va vào hai xe mô tô trên thì Nguyễn Văn D lo sợ, điều khiển xe ô tô BKS: 36D-010.10 rời khỏi hiện trường. Đến sáng ngày 09/6/2023, D đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện N để đầu thú, giao nộp xe ô tô BKS: 36D-010.10 và khai nhận hành vi của mình.
Hậu quả: Anh Lê Tiến D1 bị tử vong trên đường đi cấp cứu; anh Quách Minh K bị thương nhẹ, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào; xe ô tô BKS: 36D-010.10 và 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ tai nạn giao thông trên theo đúng quy định của pháp luật.
- Khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng của đường H thuộc địa phận khu phố H, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Lòng đường nhựa rộng 6,91m. Lề đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện C là phần đất lưu không, cỏ mọc.
Xác định điểm mốc: Lấy cột mốc số H8/544 nằm ở phần đất lưu không thuộc phần đường bên trái đường H theo hướng huyện T đi huyện C làm mốc cố định. Xác định mép nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn là mép đường bên phải theo hướng từ huyện T đi huyện C, ký hiệu (A).
- Khoảng cách từ đầu vết cà cắt quãng số (1) đến mốc cố định là 8,17m, phát hiện vết cà cắt quãng số (1) nằm trên mặt đường H ở phần đường bên phải, kết thúc tại chân chống đứng của xe mô tô BKS: 36R2-9067. Vết có chiều dài 10,38m. Khoảng cách từ đầu vết (1) đến (A) là 2,66m. Khoảng cách từ cuối vết (1) đến (A) là 0,1m.
- Hiện trường để lại xe mô tô BKS: 36R2-9067, ký hiệu (2), xe đổ nghiêng bên trái, một phần xe nằm ở phần đất lưu không bên phải, một phần xe nằm ở phần đường bên phải, xe nằm chếch chéo, đầu xe hướng huyện T, đuôi xe hướng huyện C. Khoảng cách từ cuối vết (1) đến xe mô tô BKS 36R2-9067 (2) là 0,96m. Khoảng cách từ trục trước (2) đến (A) là 0,76m. Khoảng cách từ trục sau (2) đến (A) là 0,05m. Khoảng cách từ trục trước (2) đến đầu vết cà không liên tục (3) là 0,58m.
- Hiện trường để lại vết cà không liên tục ký hiệu là (3), vết cà nằm trên phần đường nhựa bên phải, vết có chiều dài 58,57m. Khoảng cách từ đầu (3) đến (A) là 0,92m. Khoảng cách từ cuối (3) đến (A) là 0,45m. Khoảng cách từ đầu (3) đến xe mô tô BKS 36K6-1111 là 03m.
- Hiện trường để lại xe mô tô BKS 36K6-1111, ký hiệu (4), xe đổ nghiêng bên phải, nằm trên mặt đường ở phần đường bên phải theo chiều từ huyện T đi huyện C, đầu xe hướng huyện T, đuôi xe hướng huyện C. Khoảng cách từ trục trước (4) đến (A) là 0,56m. Khoảng cách từ trục sau (4) đến (A) là 0,4m.
- Hiện trường để lại vết máu không rõ hình dạng kích thước 0,37m x 0,08m trên phần đất lưu không bên phải, ký hiệu là (5) trong sơ đồ hiện trường. Khoảng cách từ tâm (5) đến (A) là 1,40m. Khoảng cách từ tâm (5) đến (6) là 3,20m. Khoảng cách từ trục trước (4) đến (5) là 46,88m.
- Hiện trường để lại mảnh nhựa bị vỡ, không rõ hình, màu trắng kích thước 0,16m x 0,14m trên mặt đường thuộc phần đường bên phải, ký hiệu (6). Khoảng cách từ (6) đến (A) là 1,60m. Khoảng cách từ (6) đến (7) là 9,75m.
- Hiện trường để lại mảnh nhựa màu đen, không rõ hình, kích thước 0,42m x 0,21m trên mặt đường thuộc phần đường bên phải, ký hiệu (7). Khoảng cách từ (7) đến (A) là 0,48m. Khoảng cách từ (7) đến (8) là 16,8m.
- Hiện trường để lại cụm đèn xe (loại xe ô tô) kích thước 0,34m x 0,21m trên mặt đường thuộc phần đường bên phải, ký hiệu (8). Khoảng cách từ (8) đến (A) là 0,30m.
Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: 01 (một) xe mô tô BKS 36K6-1111; 01 (một) xe mô tô BKS 36R2-9067; 01 (một) mảnh nhựa màu trắng (bị vỡ không rõ hình dạng); 01 (một) mảnh nhựa màu đen, không rõ hình; 01 (một) cụm đèn xe (loại xe ô tô).
- Kết quả khám nghiệm tử thi:
Khám ngoài:
Tử thi được gia đình và chính quyền địa phương xác định là Lê Tiến D1, sinh năm 1979, trú tại khu phố T, thị trấn N, huyện N. Phía trên mặc áo sơ mi cộc tay hoa văn nhiều màu. Phía dưới bên ngoài mặc quần bò ống dài màu xanh, trong mặc quần đùi màu xanh rêu.
Chiều dài tử thi: 159cm; thể tạng trung bình; tử thi đang trong thời kỳ co cứng.
Dấu vết trên quần áo: Áo thấm ướt máu. Mặt ngoài hai ống quần bò có các vết cà trượt làm sờn vải, mặt các vết tại vị trí phần sau 1/3 dưới ống quần trái bám dính chất sáng màu, các vị trí còn lại bám dính bụi đất.
Dấu vết bên ngoài tử thi:
- + Vết rách da, xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, kích thước (07 x 09)cm vùng đỉnh thái dương trái, vết có chiều từ trên xuống dưới, bờ mép vị trí rách da nham nhở.
- + Vết xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, kích thước (08 x 09)cm vùng chẩm, vết có chiều dài từ trên xuống dưới, từ sau về trước.
- + Vết dập, rách, xây xước da không rõ hình, kích thước (05 x 5,5)cm vùng trán thái dương phải, vết có chiều từ phải qua trái, chếch từ dưới lên trên, bờ mép vị trí rách da nham nhở.
- + Vết xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, kích thước (06 x 6,2)cm tại góc hàm phải, vết có chiều từ dưới lên trên.
- + Vết xây xước da bầm tụ máu, xây xước da không rõ hình, kích thước (13 x 15)cm tại mặt trên sau ngoài vai trái, vết có chiều từ trên xuống dưới, từ phải
qua trái.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (26 x 12)cm vùng lưng trái, vết có chiều từ trên xuống dưới.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (38 x 6)cm, từ mặt sau ngoài 1/3 dưới cánh tay trái đến mu bàn tay trái, vết có chiều từ sau về trước.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (28 x 9)cm, từ mặt sau ngoài 1/3 giữa cánh tay phải đến mu bàn tay phải, vết có chiều từ dưới lên trên.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (17 x 8)cm, từ mặt ngoài 1 /3 dưới cẳng tay phải đến mu bàn tay phải, vết có chiều từ dưới lên trên.
- + Vết xây xước da, bầm tụ máu không rõ hình, kích thước (5,5 x 4)cm ở vùng mông phải, vết có chiều từ sau về trước.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (9 x 7)cm, ở mặt ngoài gối phải, vết có chiều từ trước về sau.
- + Vết xây xước da không rõ hình, không liên tục, kích thước (7 x 3)cm, tại mặt trong mu bàn chân trái, vết có chiều từ sau về trước.
Mổ tử thi:
- Vùng đầu: Tổ chức dưới da đầu vùng trán phải, đỉnh chẩm hai bên, thái dương trái tụ máu diện rộng. Cơ thái dương hai bên màu sắc đồng nhất không có tổn thương. Xương hộp sọ trắng đều, các đường khớp liền, kín không có tổn thương;
- Mở hộp sọ: Màng cứng không bị rách. Tụ máu lan tỏa màng mềm diện rộng và tụ máu bán cầu não hai bên. Tổ chức não phù, thành não thất bên chứa dịch hồng.
Quá trình khám nghiệm tử thi đã thu mẫu máu của Lê Tiến D1 để tiến hành giám định.
Kết quả giám định nguyên nhân chết: Tại bản Kết luận giám định số 2325/KLGDTT-PC09 ngày 20/6/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của Lê Tiến D1 là do: Tụ máu não, phù não.
Kết quả giám định nồng độ cồn: Tại bản Kết luận giám định số 2238/KL-KTHS ngày 19/6/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Trong mẫu máu của Lê Tiến D1 gửi giám định có nồng độ cồn là 127,84mg/100ml máu.
Sau khi Nguyễn Văn D ra đầu thú, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành đo nồng độ cồn và đưa D đến Bệnh viện đa khoa huyện N để test ma túy, kết quả: Không có nồng độ cồn trong hơi thở và không có chất ma túy trong mẫu test của Nguyễn Văn D.
Tiến hành đo nồng độ cồn của anh Quách Minh K, sinh năm 1988, trú tại khu phố L, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là người điều khiển xe mô tô BKS: 36R2-9067, kết quả đo là: 0,124mg/L.
Kết quả giám định phương tiện:
Tại bản Kết luận giám định phương tiện số 2684/KL-KTHS ngày 18/7/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
Tại thời điểm va chạm cả ba phương tiện chuyển động cùng chiều. Vị trí va chạm giữa xe ô tô BKS 36D-010.10 và hai xe mô tô BKS 36K6-1111 và BKS 36R2-9067 được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải theo hướng huyện T đi huyện C. Không đủ cơ sở kết luận vận tốc của cả ba phương tiện thời điểm xảy ra va chạm.
+ Cơ quan CSĐT đã trưng cầu Trung tâm Đ1 giám định tình trạng an toàn kỹ thuật của xe ô tô BKS 36D-010.10. Ngày 23/6/2023, Trung tâm Đ1 kết luận: Tại thời điểm trước và trong khi xảy ra tai nạn không đủ căn cứ xác định tình trạng an toàn kỹ thuật của phương tiện 36D-010.10; Tại thời điểm giám định xe ô tô 36D-010.10 không thỏa mãn về quy định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường.
Kết quả định giá tài sản: Nguyễn Văn D đã từ chối định giá tài sản đối với thiệt hại của xe ô tô do vụ tai nạn gây nên; anh Quách Minh K và đại diện gia đình bị hại Lê Tiến D1 đã từ chối định giá tài sản đối với thiệt hại của xe mô tô do vụ tai nạn gây nên.
Giám định hình ảnh: Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã thu giữ dữ liệu Camera an ninh tại nhà anh Lê Khắc T1, sinh năm 1984, trú tại Khu phố H, thị trấn N, huyện N. Ngày 14/12/2023, Phòng K2 Công an tỉnh T có Kết luận giám định số 4494/KL-KTHS kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 đĩa DVD-R gửi giám định; Trích xuất 04 ảnh thể hiện nội dung vụ việc.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe ô tô BKS: 36D-010.10; 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn D; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 037971 mang tên Công ty TNHH D4; 01 mảnh nhựa màu đen, không rõ hình; 01 cụm đèn xe (loại xe ô tô); 01 xe mô tô BKS: 36K6-1111; 01 xe mô tô BKS: 36R2-9067.
Đối với xe mô tô BKS 36K6-1111 và xe mô tô BKS 36R2-9067: Quá trình điều tra xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại và gia đình bị hại quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, riêng xe mô tô BKS 36K6-1111 của anh Lê Tiến D1, chị Lê Diễm H (đại diện cho bị hại) chờ khi nào xét xử xong mới nhận lại xe và giấy tờ có liên quan.
Kết quả xác minh giấy phép lái xe: Nguyễn Văn D và Lê Tiến D1 có giấy phép lái xe theo quy định. Quách Minh K không có giấy phép lái xe theo quy định.
Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 36D-010.10 đứng tên Công ty TNHH D4 do anh Bùi Khắc D2, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã K, huyện N làm Giám đốc. Xe ô tô này Công ty TNHH D4 và TM Tây Lam K1 đã bán cho Nguyễn Văn D vào năm 2022. Xe ô tô BKS: 36D-010.10 hết hạn kiểm định vào ngày 23/9/2022.
Về dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra Nguyễn Văn D đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường cho anh Quách Minh K số tiền là 15.000.000đ, anh K không yêu cầu D
phải bồi thường thêm khoản tiền nào nữa. Anh K chỉ bị thương nhẹ, không phải điều trị tại bất kỳ cơ sở y tế nào, anh K đã có đơn từ chối giám định sức khỏe, đơn từ chối định giá tài sản.
Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp của bị hại Lê Tiến D1 yêu cầu Nguyễn Văn D phải bồi thường tổng số tiền là 1.500.000.000đ. Hiện nay, Nguyễn Văn D đã tự nguyện nộp số tiền 300.000.000đ cho Cơ quan CSĐT đề nghị được bồi thường cho gia đình bị hại, Cơ quan CSĐT tiến hành triệu tập đại diện gia đình bị hại để bàn giao theo quy định nhưng gia đình bị hại chưa nhận số tiền này. Cơ quan CSĐT đã chuyển số tiền 300.000.000đ đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Cáo trạng số 44/CT-VKS-P2 ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố: Nguyên Văn D3 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 260; điểm s, b, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án; khoản 1 phần I, điểm b mục 1.3 khoản 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Toà án ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Văn D phải bồi thường cho đại diện hợp pháp cho người bị hại các khoản: Tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần: 306.516.000đ đã bồi thường 300.000.000đ, còn phải bồi thường tiếp 6.516.000đ; tiền cấp dưỡng nuôi cháu Lê Nguyễn Mai A, sinh ngày 01/8/2007 số tiền 2.000.000đ/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ khi anh D1 chết đến khi cháu Lê Nguyễn Mai A đủ 18 tuổi. Đại diện hợp pháp cho người bị hại được nhận số tiền 300.000.000đ bị cáo Nguyễn Văn D đã nộp, hiện Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa mở tại Kho bạc Nhà nước T2, theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 01 ngày 28/5/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn D có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Ngày 01/7/2024, đại diện hợp pháp của bị hại Lê Tiến D1 (đã chết) là ông Lê Đình N (bố đẻ của bị hại) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị tăng hình phạt lên mức tối đa của khung hình phạt; làm rõ hành vi gian dối của bà N và chị Ngô Thị P; đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại (bao gồm tiền chi phí mai
táng, tiền cấp dưỡng, và chi phí bồi thường thiệt hại về tài sản).
Ngày 30/9/2024, đại diện phía bị hại (thông qua người đại diện theo ủy quyền) có đơn tự nguyện rút đơn kháng cáo, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn D.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo D giữ nguyên nội dung kháng cáo đồng thời nộp thêm các tài liệu, bao gồm: Giấy xác nhận của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện N, xác nhận Nguyễn Văn D ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra, số tiền là 300.000 đồng; Ủng hộ làm nhà cho hộ nghèo theo Chỉ thị 22 số tiền là 200.000 đồng; Biên bản giao nhận tiền giữa Nguyễn Văn D và chị Lê Diễm H (là đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại) tổng số tiền bồi thường thiệt hại là 725.000.000 đồng (bao gồm 300.000.000 đồng bị cáo D đã chuyển vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá); Biên lai thu số tiền 525.800 đồng án phí sơ thẩm; Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của UBND thị trấn N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại là hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
- Về nội dung:
+ Xét kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại: Người đại diện hợp pháp của bị hại (thông qua người đại diện theo ủy quyền) đã có đơn tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định pháp luật.
+ Xét kháng cáo của bị cáo D: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn, hối lỗi; bị cáo xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới có căn cứ được chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo D 06 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Ngày 30/9/2024, chị Lê Thị Diễm H là đại diện theo ủy quyền của ông Lê Đình N (là đại diện theo pháp luật của người bị hại) có đơn xin rút đơn kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của đại diện phía bị hại là hoàn toàn tự nguyện. Do
vậy, căn cứ Điều 348 BLTTHS, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của đại diện người bị hại.
[3] Về tội danh: Tại phiên toà phúc thẩm, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 08/6/2023, Nguyễn Văn D điều khiển xe ô tô BKS: 36D-010.10 lưu thông trên đường H theo hướng huyện T đi huyện C, khi đến địa phận khu phố H, thị trấn N do không chú ý quan sát, không đảm bảo tốc độ và khoảng cách với xe đi phía trước cùng chiều, đã đâm va vào phía sau xe mô tô BKS: 36K6-1111 do anh Lê Tiến D1 điều khiển và xe mô tô BKS: 36R2-9067 do anh Quách Minh K điều khiển. Sau khi tai nạn xảy ra, do bị hoảng loạn, sợ hãi Nguyễn Văn D không dừng lại để cấp cứu người bị nạn mà điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường, sau đó D đã đến Công an huyện N xin đầu thú. Hậu quả: Anh Lê Tiến D1 tử vong trên đường đi cấp cứu; anh Quách Minh K bị thương nhẹ, xe ô tô và hai xe mô tô bị hư hỏng.
Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo:
[4.1] Hội đồng xét xử thấy rằng, khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ cũng như hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ, hậu quả làm anh Lê Tiến D1 chết, anh Quách Minh K bị thương. Bị cáo Nguyễn Văn D là người có hiểu biết về pháp luật, trước khi phạm tội bị cáo giữ chức vụ Phó Đội trưởng Đội quản lý hành chính, Công an huyện N. Xe ô tô do bị cáo điều khiển đã quá hạn đăng kiểm, không đảm bảo điều kiện an toàn khi tham gia giao thông, nhưng bị cáo vẫn điều khiển xe tham gia giao thông.
[4.2] Toà án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét việc Nguyễn Văn D đã đến Công an huyện N xin đầu thú và giao nộp chiếc xe ô tô BKS: 36D-010.10 là phương tiện D đã điều khiển gây ra vụ tai nạn nêu trên; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; đã tự nguyện nộp 300.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại; quá trình công tác Nguyễn Văn D được Chủ tịch nước tặng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 42 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội.
[4.3] Ngày 30/9/2024, đại diện phía bị hại có đơn xin rút đơn kháng cáo, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, lý do của việc rút đơn kháng cáo và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là xem xét điều kiện, hoàn cảnh và nhận thấy bị cáo Nguyễn Văn D đã nhận thức, ăn năn hối cải về hành vi trái pháp luật của mình. Đồng thời, bị cáo D và gia đình đã chủ động xin lỗi, động viên, thăm hỏi và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 725.000.000 đồng (bao gồm 300.000.000 đồng bị cáo D đã chuyển vào tài khoản của Cục Thi
hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá). Như vậy, ngoài số tiền bị cáo D phải bồi thường cho phía gia đình bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm là 306.516.000 đồng, bị cáo D còn bồi thường thêm hơn 400 triệu đồng; bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ 525.800 đồng tiền án phí sơ thẩm; bị cáo tham gia ủng hộ đồng bào bị thiệt hại do cơn bão số 3 gây ra, số tiền là 300.000 đồng; Ủng hộ làm nhà cho hộ nghèo theo Chỉ thị 22 số tiền là 200.000 đồng.
[4.4] Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Văn D có nhân thất tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Trong quá trình công tác bị cáo luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn D thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm nhiều tài liệu có tình tiết mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.
[5] Trách nhiệm dân sự: Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường thiệt hại (bao gồm tiền chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng, và chi phí bồi thường thiệt hại về tài sản). Tại biên bản giao nhận tiền ngày 26/9/2024 tại trụ sở UBND thị trấn N thể hiện, các bên thoả thuận và thống nhất bị cáo bồi thường cho phía gia đình bị hại tổng số tiền là 725.000.000 đồng (bao gồm số tiền đã nhận ngày 26/9/2024 là 425.000.000 đồng và số tiền 300.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại cơ quan điều tra), bên phía đại diện hợp pháp của bị hại cam kết không yêu cầu thêm bất kỳ chi phí bồi thường nào khác. Như vậy, sau khi xét xử sơ thẩm, các bên đã tự nguyện thoả thuận mức bồi thường trách nhiệm dân sự, việc thoả thuận này là không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được ghi nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348, điểm b, khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, cụ thể:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm s, b, v khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự; Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho UBND thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số tiền là 725.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của người bị hại đã nhận 425.000.000 đồng và được nhận số tiền 300.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Văn D đã nộp cho Cơ quan điều tra, hiện Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản số 3949.0.1054196.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa mở tại Kho bạc Nhà nước T2, theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 01 ngày 28/5/2024.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lợi |
Bản án số 877/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 877/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm với kháng cáo của bị hại Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
