|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 877/2023/HS-PT Ngày: 22/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khánh;
Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trọng;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 941/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ D, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm về tội “Giết người”, do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2023.
Bị cáo Đỗ D, sinh ngày 20/6/2006, tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; chỗ ở: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Học sinh; con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1979 và bà Lê Thị G, sinh năm 1981; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 07/11/2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ D:
- Ông Nguyễn Anh Đ và bà Hoàng Thị H - Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; vắng mặt.
- Ông Lê Tuấn A - Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo có kháng cáo: Bà Lê Thị G, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
* Bị hại: Nguyễn Gia B, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
* Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
* Người làm chứng:
- - Nguyễn Xuân Hải Đ1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Nguyễn Quang T1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Giang Việt K, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Cao Việt H1, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Nguyễn Văn H2, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn N, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Đỗ Duy T2, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn T, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Đỗ Đức H3, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Đặng Đình Thành V, sinh năm 2006; nơi cư trú: Thôn C, xã C, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Đặng Thị Thu H4, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- - Nguyễn Trọng T3, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Văn B1, Đỗ D và Đặng Đình B2 là bạn học cùng trường Trung học phổ thông H5, thị xã M; Hoàng Văn B1 và Đỗ D rằng ngày 07/5/2022 Đặng Đình B2 có mâu thuẫn với Giang Việt K (học cùng trường), nên nảy sinh ý định tìm K đánh trả thù cho Đình B2 (mặc dù Đ không nhờ). Tối ngày 08/5/2022 B2 nhắn tin cho D qua ứng dụng Messenger để bàn với D về việc trưa ngày 09/5/2022 sẽ tìm đánh K, D đồng ý. Sáng ngày 09/5/2022, B2 điều khiển xe máy nhãn hiệu ESPERO màu nâu, biển số 89AA-212.89 đi học và mang theo 01 con dao phớ bằng kim loại dài 53,3 cm, phần lưỡi dao dài 42 cm có 01 cạnh sắc, mũi vuông, bản rộng nhất của lưỡi 04 cm cất trong cốp xe. Đến khoảng 12 giờ trưa cùng ngày khi tan học, B2 bảo bạn là Nguyễn Văn H2 điều khiển xe máy của B2 chở B2 và D đi đến khu vực Cầu T thuộc tổ dân phố V, phường B, thị xã M chờ K đi học về qua để đánh; N đi học về đến Cầu T thì thấy H2, B2, D nên cũng đứng lại. Lúc này B2 và D nhìn thấy Nguyễn Xuân Hải Đ1 điều khiển xe máy chở K đi qua nên đã chặn xe
Đ1 lại. B2 và D dùng chân tay đánh, đấm vào đầu, mặt, người Khoa làm K bị ngã ra đường, thấy vậy N cũng xông vào dùng chân tay đánh, đấm K. Đăng vào can ngăn thì bị B2 đẩy ra và bị D dùng tay đấm vào đầu. Sau đó tất cả giải tán, N một mình đi về đến đoạn đường phía trước hồ T thì gặp K và một số bạn của K đang đứng đó, K có chỉ tay về phía N và nói với bạn là N vừa đánh K. Do sợ bị nhóm bạn K đánh nên N đi thẳng về nhà và gọi điện cho D thông báo về việc nhóm của K đang tìm nhóm của D. Khi đó H2 chở B2 và D đi trên đường N về phía xã C, D nói với B2 “chúng nó đang đuổi đánh mình, thì giờ như thế nào”, B2 nói “quay lại” và B2 điều khiển xe máy chở D và H2 quay lại đến khu vực vòng xuyến N thì gặp bạn là Đỗ Duy T2 đang đi ngược chiều, B2 và H2 đã gọi T2 quay lại, để T2 chở H2, B2 lấy dao từ trong cốp xe ra để ở khung sườn xe rồi tiếp tục chở D đi trên đường N đến khu vực gần cổng trường Trung học phổ thông H5 thì gặp nhóm của Đ1 ở đường ngược chiều gồm: Nguyễn Quang T1 điều khiển xe chở Đặng Thị Thu H4; Cao Việt H1 đi một mình, Đ1 điều khiển xe chở Nguyễn Gia B sinh ngày 12/10/2006. B2 đã điều khiển xe vòng lại, hai bên dừng xe lại cách nhau khoảng 5 m đến 7 m, B2 và D chủ động đi lại gặp nhóm của T1, Đ1, B, hai bên có lời qua tiếng lại, B2 liền chạy về phía xe mô tô lấy 01 con dao, B được một người (không xác định được là ai) đưa cho 01 gậy bằng kim loại (loại gậy rút 3 khúc). Bắc nói “chúng mày làm sao” và tiến lại dùng tay trái đẩy vào ngực Đ1, D cũng lao vào dùng tay xô đẩy Đ1. B2 nói “chém chết mẹ nó đỉ”, thì B đứng ngay sau B2, cầm gậy kim loại đánh vào vùng lưng của B2, B2 bị đánh nên quay lại tay phải cầm dao chém hai nhát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng đầu B, B tiếp tục dùng gậy kim loại đánh trúng vào vùng mặt, đầu B2. Lúc này D lao vào ôm cổ B, dùng tay đấm vào mặt B, B2 tiếp tục dùng dao chém nhiều nhát trúng vào vùng môi, vùng sườn phải, và tay của B, do D đang ôm B nên cũng bị chém trúng 02 nhát vào bàn tay phải. Thấy B bị B2 đánh, T1 nhặt 01 đoạn gậy gỗ ở rìa đường để đánh B2 và D nhưng thấy B2 có dao nên T1 không dám vào đánh mà nhặt 01 viên gạch ném trúng lưng B2; trong lúc xô xát thì Đ1 đã lấy gậy bóng chày ở xe của H1 đánh trúng đầu B2 khiến B2 bị ngã, Đ1 dùng gậy bóng chày, B dùng gậy kim loại đánh liên tiếp vào người B2. Thấy vậy D nhảy lên dùng chân đạp vào người B, khi đó Đ1 cầm gậy bóng chày đánh D thì D bỏ chạy về phía vòng xuyến bao bì. Được mọi người can ngăn nên cả hai nhóm bỏ dao, gậy, gạch ở hiện trường rồi đi về. Sau đó H2 nhắn tin bảo T2 ra nhặt dao Bắc vừa chém B vứt đi, T2 đã nhặt dao ném xuống mương nước cạnh đó. Hậu quả B bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Phòng khám Đ2 và Bệnh viện H6 - Hà Nội, Bệnh viện Đ3 từ ngày 09/5/2022 đến ngày 17/5/2022 thì ra viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/2022/TgT ngày 10/6/2022 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa Sở Y và Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 106/TgT-BS ngày 26/8/2022 của Trung tâm pháp y và Giám định y khoa Sở Y kết luận về thương tích của Nguyễn Gia B: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 52% (Năm mươi hai phần trăm).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 97/2023/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã áp dụng các điểm b, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 57; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”; thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Văn B1, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/8/2023, bị cáo Đỗ D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt là quá nặng.
Ngày 02/8/2023, đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ D là bà Lê Thị G có đơn kháng cáo đề nghị xem xét về phần tội danh và hình phạt vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội giết người là không phù hợp, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là quá nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bà Lê Thị G là đại diện hợp pháp của bị cáo Đỗ D thay đổi nội dung kháng cáo, không đề nghị xem xét lại tội danh đối với bị cáo, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng tội danh và điều luật áp dụng. Vị luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo chỉ dùng tay chân đấm đá người bị hại, không dùng hung khí (dao) để chém bị hại nên trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm thứ yếu; bị hại có một phần lỗi và cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ (bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, có những đóng góp tích cực cho phong trào phòng chống C tại địa phương, trước khi phạm tội đang là học sinh có học lực tốt, được tặng nhiều giấy khen và được cô giáo chủ nhiệm cùng các bạn trong trường lớp có đơn xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mẹ bị cáo được tặng nhiều giấy khen của Tập đoàn C1, ông nội của bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì) để giảm hình phạt cho bị cáo 15 tháng tù.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định Tòa án cấp sơ thẩm kết tội bị cáo Đỗ D về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị cáo cũng xuất trình thêm tài liệu thể hiện trước khi phạm tội bị cáo có những đóng góp tích cực cho phong trào phòng chống Covid-19 tại địa phương, có
đơn của cô giáo chủ nhiệm và các bạn học xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đỗ D và bà Lê Thị G có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo là hợp pháp, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tội danh, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định pháp y, lời khai của người bị hại, người làm chứng, các vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/5/2022, tại đường N, thuộc tổ dân phố N, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Hoàng Văn B1 đã có hành vi dùng 01 con dao kim loại sáng màu dài 53,3 cm, lưỡi dao dài 42 cm, bản rộng nhất của lưỡi dao 04 cm (còn gọi là dao phớ) chém liên tiếp nhiều nhát vào vùng trán đỉnh phải, vùng đỉnh chẩm trái của cháu Nguyễn Gia B, tiếp đó Đỗ D dùng tay ôm ghì cổ và đấm nhiều nhát vào đầu và mặt B, B1 tiếp dùng dao chém nhiều nhát trúng vùng mũi, vùng môi trên bên phải, vùng hạ sườn phải, vùng mặt sau khuỷu tay trái, bàn tay phải, sau đó Đỗ D tiếp tục dùng chân phải đạp vào người B. Hậu quả B bị thương ở trán đỉnh phải, đỉnh chẩm trái, mũi, môi, hạ sườn phải, khuỷu tay trái, ngón II bàn tay phải, vỡ xương thái dương đỉnh trái và xương trán đỉnh phải, gẫy răng số 12, tổn thương thần kinh trụ tay trái mức độ rất nặng, vỡ mỏm khuỷu tay trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 52%. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn B1 và bị cáo Đỗ D thể hiện các bị cáo đã cố ý xâm phạm tính mạng của cháu Nguyễn Gia B, là hành vi giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[3] Giữa các bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, chỉ vì muốn trả thù cho bạn và thể hiện bản thân, các bị cáo đã truy sát, dùng tay, chân đấm đá và dao phớ chém nhiều nhát vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại là người dưới 16 tuổi, thể hiện tính côn đồ, hung hãn, coi thường tính mạng người khác. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Đỗ D phạm tội “Giết người” với các tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” và “Giết người dưới 16 tuổi” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Trong vụ án này, khi cháu B bị chém và bị đấm đá thì được mọi người can ngăn nên các bị cáo không tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; hậu quả cháu B bị tổn hại sức khỏe 52% là do được cấp cứu kịp thời và nguyên nhân khách quan. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự và áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự để xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo là chính xác.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt thấy rằng quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình bồi thường 60.000.000 đồng cho bị hại ở giai đoạn sơ thẩm; bị cáo có mẹ được Tập đoàn C1 tặng Giấy khen, ông nội của bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo D trong quá trình học tập được tặng nhiều Giấy khen. Mặt khác trong vụ án này thì người bị hại cũng có một phần lỗi. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đúng pháp luật. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, gia đình bị cáo cũng xuất trình tài liệu có xác nhận của chính quyền địa phương về việc trước khi phạm tội, bị cáo là công dân tốt, luôn chấp hành pháp luật và có nhiều thành tích trong học tập; bị cáo tích cực tham gia ủng hộ phong trào phòng, chống Covid-19 và đơn xin giảm nhẹ hình phạt của cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thị L và các bạn học cùng lớp tại Trường tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Hồng Đức với lý do trong thời gian Đỗ D học tại Trường luôn chăm ngoan, lễ phép với thầy cô giáo, biết giúp đỡ và hòa đồng với các bạn trong lớp, luôn chấp hành nội quy trường lớp, tích cực tham gia các phong trào của nhà trường. Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận đây là tình tiết giảm nhẹ mới, cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, trước khi phạm tội đang là học sinh có học lực tốt, chấp hành pháp luật và có ý thức với cộng đồng, có thể cải tạo, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội; trong vụ án này bị cáo không phải là người trực tiếp chém gây lên thương tích nặng cho bị hại, mà chỉ là đồng phạm với vai trò giúp sức; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục thể hiện thái độ ăn năn, hối cải và gia đình bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Bởi vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội trong độ tuổi vị thành niên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa.
[6] Về án phí, căn cứ Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án”, bị cáo Đỗ D và bà Lê Thị G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ D và người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Lê Thị G; sửa quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đỗ D.
Áp dụng các điểm b, n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 57; Điều 58; Điều 91; khoản 2 Điều 101; khoản 1, khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giết người”; thời hạn tính từ ngày 07/11/2022.
2. Về án phí, bị cáo Đỗ D và bà Lê Thị G không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Đình Khánh |
Bản án số 877/2023/HS-PT ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự phúc thẩm về tội giết người
- Số bản án: 877/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ D phạm tội Giết người
