|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 876/2024/HSPT Ngày 28 tháng 10 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển
Ông Phạm Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 577/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 do có kháng cáo của Nguyên đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Nguyên đơn dân sự có kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V).
Địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S số A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Lê Trung K, cán bộ Ngân hàng thương mại cổ phần Q1; địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, Số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội (theo Giấy ủy quyền số 160997.24 ngày 07/8/2024); có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập đến Tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị Huyền Đ, sinh năm 1998 và Nguyễn Văn N, sinh năm 1994 là vợ chồng và trú tại Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, do kinh doanh bị thua lỗ và đánh bạc trên mạng dẫn đến nợ nần nên đã nảy sinh ý định làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản lấy tiền trả nợ; thông qua hình thức chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Khoảng tháng 7/2021, N gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho mẹ vợ là bà Đặng Thị M hiện đang lao động ở nước ngoài để hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (sau đây viết tắt là giấy CNQSDĐ) thế chấp Ngân hàng vay số tiền 100 triệu đồng để làm nhà. Vì giấy CNQSDĐ bà M đang gửi bố đẻ là ông Đặng Ngọc X, sinh năm 1939, trú tại Xóm G, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, nên bà M bảo N đến nhà ông X lấy giấy CNQSDĐ, N đến nhà gặp ông X lấy giấy CNQSDĐ số U296708, do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25/9/2001, số vào sổ 00180, mang tên bà Đặng Thị M đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 18, diện tích 906m². Do bà M đang lao động ở nước ngoài nên không thế chấp vay tiền được, N tiếp tục nhắn tin qua Messenger nhờ bà M hỏi mượn giấy CNQSDĐ của ông X để thế chấp Ngân hàng vay tiền trong thời gian khoảng 02 năm; bà M gọi điện cho ông X trao đổi và được ông X đồng ý, N đến nhà và được ông X đưa cho mượn giấy CNQSDĐ số BL 607557 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 17/9/2012 đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m². Sau khi mượn được các giấy CNQSDĐ của bà M và ông X, Đặng Thị Huyền Đ, Nguyễn Văn N thực hiện các hành vi:
* Vụ thứ nhất: Khoảng tháng 8/2021, Đ nảy sinh ý định làm giả 02 giấy CNQSDĐ của bà M, 01 giấy để thế chấp nhằm chiếm đoạt tiền, 01 giấy để đưa cho bà M khi bà M đòi. Đ sử dụng tài khoản Facebook “Hung N” tìm được người làm giả giấy CNQSDĐ trên mạng xã hội (hiện Đ không nhớ tên và tài khoản của người này) với giá 400.000 đồng rồi chụp ảnh giấy CNQSDĐ của bà M và cung cấp thông tin cá nhân của Đ gửi cho người này, khoảng 01 tuần sau thì Đ nhận được 01 giấy CNQSDĐ giả mang tên mình và 01 giấy CNQSDĐ giả mang tên bà M, đồng thời sau đó Đ đưa cho N giấy CNQSDĐ giả mang tên mình để N tìm người thế chấp. Khoảng tháng 9/2021, N liên hệ với anh Nguyễn Đức Q sinh năm 1992, trú tại tổ B, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để thế chấp giấy CNQSDĐ giả mang tên Đ vay với số tiền là 200.000.000 đồng, anh Q đồng ý cho N thế chấp quyền sử dụng đất với lãi suất là 04%/tháng thành tiền là 8.000.000 đồng/tháng, thì N đồng ý. Do không có tiền nên anh Q bảo anh Trần Văn T sinh năm 1987, trú tại xóm C, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên về khoản thế chấp của N với lãi suất 02%/tháng và được anh T đồng ý nhưng với điều kiện phải làm thủ tục Công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 17/9/2021, vợ chồng Đ-N cùng anh T, Quyền đến Văn phòng C2, tại số nhà A, đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 260 với giá 250.000.000 đồng, sau khi kiểm tra xong tài liệu của các bên, Công chứng viên Vũ Duy H sinh năm 1960, trú tại tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên soạn thảo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để cho Đ và T ký, điểm chỉ. Ngày 18/9/2021, anh T đã chuyển tiền đặt cọc cho N số tiền 200.000.000 đồng qua tài khoản số [...] của N. Trong thời gian thế chấp, từ tháng 9/2021 đến tháng 01/2022 hàng tháng Niêm trả tiền lãi cho anh Q 8.000.000 đồng/tháng với tổng số tiền là 32.000.000 đồng, số tiền này được anh Q trả cho anh T là 4.000.000 đồng/tháng với tổng số tiền là 16.000.000 đồng. Ngày 24/01/2022, N trả tiền gốc với số tiền 50.000.000 đồng cho anh Q, T nên từ tháng 02/02/2022 đến tháng 03/2022 N phải trả tiền lãi cho anh Q số tiền 6.000.000 đồng/tháng với tổng số tiền là 12.000.000 đồng, số tiền này được anh Q trả cho anh T là 3.000.000 đồng/tháng với tổng số tiền là 6.000.000 đồng. Do thời hạn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được 06 tháng nên anh T, Q yêu cầu vợ chồng Đ-Niêm lập lại hợp đồng mới; ngày 30/3/2022 anh T, Q và vợ chồng Đ-Niêm đến Văn phòng C2 để hủy bản hợp đồng cũ và lập lại bản Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 260 với giá 500.000.000 đồng do Công chứng viên Nguyễn Đình C sinh năm 1959, trú tại tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thực hiện.
Đến tháng 4/2022, anh Q, T không thấy N đóng tiền lãi và không liên lạc được với N nên ngày 26/4/2022, anh T nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2, tỉnh Thái Nguyên để làm thủ tục sang tên thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T giấy CNQSDĐ nêu trên có dấu hiệu bị làm giả nên đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và giao nộp tài liệu: 01 giấy CNQSDĐ số DC 356158, do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 24/8/2021, số vào sổ CS00410, mang tên Đặng Thị Huyền Đ đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 18, diện tích 906m2; Niêm phong mã số NS2A 074354, ký hiệu A. 02 bản Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 30/3/2022 của Văn phòng C2; niêm phong bì ký hiệu A1.
* Vụ thứ hai: Khoảng tháng 9/2021, thông qua Nguyễn Văn K1 sinh năm 1983, trú tại xóm G xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (là chú ruột của N), N gặp anh Hứa Thế H1 sinh năm 1977, trú tại xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để nhờ anh H1 làm dịch vụ chuyển quyền sử dụng đất giấy CNQSDĐ số BL 607557 do UBND huyện P, cấp ngày 17/9/2012 đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² của ông Đặng Ngọc X sang tên Nguyễn Văn N. H1 đồng ý nhận hồ sơ và giao cho anh Phạm Ngọc H2 sinh năm 1986, trú tại xóm C, Xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thực hiện việc đi công chứng hợp đồng. Sau đó H2 đến Văn phòng C2 có địa chỉ tại tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và được Công chứng viên Dương Thị Kim C1 sinh năm 1961, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên cử Nhân viên tập sự là chị Nguyễn Thị Phương L sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên lập hợp đồng, do tin tưởng chị L bảo H2 mang hợp đồng đến nhà ông X ký và điểm chỉ. Ngày 13/9/2021, N đi cùng anh H2 đến nhà ông X và bảo ông X ký, điểm chỉ vào các trang của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số BL 607557 với giá chuyển nhượng là 100.000.000 đồng. Do tuổi cao, mắt kém và tin tưởng cháu rể mượn giấy CNQSDĐ của mình để vay tiền ngân hàng nên ông X đã ký vào hợp đồng công chứng, sau đó N và anh H2 giao hợp đồng công chứng cho chị L, chị L trình Công chứng viên Dương Thị Kim C1 công chứng hợp đồng nêu trên, sau đó anh H2 đã nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 21/9/2021, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T đã cấp giấy CNQSDĐ số DD724141, số thửa 440, tờ bản đồ số 18, số vào sổ CS00747, mang tên Nguyễn Văn N.
Ngày 28/9/2021, N và Đ mang giấy CNQSDĐ nêu trên thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q1 (V) chi nhánh T2 vay số tiền 720.000.000 đồng với thời hạn khế ước nhận nợ là 06 tháng, kể từ ngày 30/9/2021 đến ngày 29/3/2022.
* Vụ thứ ba: Khoảng tháng 12/2021, N gặp anh H1 để nhờ làm dịch vụ cho tặng bìa đỏ giữa bà Đặng Thị M và con gái là Đặng Thị Huyền Đ, anh H1 đồng ý nhận hồ sơ (thời gian này bà M đang lao động tại nước ngoài). Ngày 26/12/2021, anh H1 đưa hồ sơ cho anh Trần Văn H3 sinh năm 1998, trú tại xóm Q, xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đến Văn phòng C2 để làm hợp đồng, Công chứng viên Dương Thị Kim C1 cử chị Nguyễn Thị Phương L lập hợp đồng. Ngày 02/01/2022, chị L bảo anh H3 mang hợp đồng đến nhà bà M ký và điểm chỉ, anh H3 mang hợp đồng về thì N bảo anh H3 đưa hợp đồng để N mang về cho mọi người ký và điểm chỉ rồi đưa lại cho anh H3, anh H3 đồng ý đưa hợp đồng cho N; N mang về đưa cho Đ ký và điểm chỉ, còn N tự ký và điểm chỉ vào phần của bà M. Ngày 03/01/2022, N cầm hợp đồng đã có đủ điểm chỉ, chữ ký ghi tên Đặng Thị M và Đặng Thị Huyền Đ đưa lại cho anh H3. Ngày 04/01/2022, anh H3 cầm hợp đồng đưa lại cho chị L và được Công chứng viên Dương Thị Kim C1 công chứng hợp đồng. Khi hồ sơ đã được công chứng anh H1 nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 10/01/2022, Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T đã cấp giấy CNQSDĐ số DÐ 790896, số thửa 260, tờ bản đồ số 18, số vào sổ CS 00035 mang tên Đặng Thị Huyền Đ.
Ngày 21/01/2022, N và Đ mang giấy CNQSDĐ nêu trên thế chấp tại Ngân hàng V chi nhánh T2 vay số tiền 1.080.000.000 đồng với thời hạn khế ước nhận nợ là 06 tháng, kể từ ngày 22/01/2022 đến ngày 21/7/2022.
Ngày 30/3/2022, N nhờ chị Nguyễn Thị Thu T1 sinh năm 1991, trú tại xóm C, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, là Nhân viên Ngân hàng V chi nhánh T2, tất toán 02 khoản vay trên và lập hợp đồng tín dụng mới thế chấp 02 giấy CNQSDĐ nêu trên để vay số tiền 1.800.000.000 đồng với thời hạn khế ước nhận nợ là 12 tháng, kể từ ngày 31/3/2022 đến ngày 30/3/2023.
Ngày 05/5/2022, Đ giao 01 giấy CNQSDĐ giả mang tên Đặng Thị M cho chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (là chị họ của Đ); ngày 14/5/2022, chị H4 giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên: 01 giấy CNQSDĐ số Đ 296708, do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp năm 2021, cho hộ bà Đặng Thị M, số thửa 260, tờ bản đồ số 18 thuộc xã S, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, niêm phong bì ký hiệu A5.
Sau khi thế chấp chiếm đoạt tiền của Ngân hàng V chi nhánh T2, vợ chồng Đ-Niêm bỏ trốn. Ngày 01/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định truy nã đối với Đặng Thị Huyền Đ, Nguyễn Văn N. Ngày 12/01/2023, Đặng Thị Huyền Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú. Ngày 02/8/2023, Cơ quan Công an bắt Nguyễn Văn N theo Quyết định truy nã.
* Kết quả điều tra xác định quá trình công chứng hợp đồng chuyển nhượng và cho tặng quyền sử dụng đất nêu trên Văn phòng C2 thực hiện không đúng quy định, cụ thể như sau:
Dương Thị Kim C1 được bổ nhiệm chức danh tư pháp Công chứng viên theo Quyết định số 2660 ngày 22/12/2005 của Bộ Tư pháp. Tại Quyết định số 2936 ngày 01/11/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh T cho phép thành lập Văn phòng C2 (là tổ chức cung ứng dịch vụ công, thực hiện cung ứng dịch vụ pháp lý về công chứng theo sự ủy nhiệm của Nhà nước), có trụ sở tại xã S, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 11/11/2016, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên cấp giấy đăng ký hoạt động của văn phòng C2 - Thái Nguyên. Ngày 12/4/2018, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng C2 - Thái Nguyên, Trưởng Văn phòng C2 là bà Dương Thị Kim C1, có trụ sở tại số nhà A, tổ B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Tại Quyết định số 103 ngày 01/4/2020 của Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên, cấp lại giấy đăng ký hoạt động cho Văn phòng C2. Ngày 01/4/2020, Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên cấp giấy đăng ký hoạt động của Văn phòng C2 - Thái Nguyên, Trưởng Văn phòng C2 là bà Dương Thị Kim C1, có trụ sở tại số nhà A, tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Quá trình hoạt động, Văn phòng C2 tiếp nhận Nguyễn Thị Phương L làm Nhân viên theo Hợp đồng lao động số 005/2017/HĐLĐ từ ngày 01/8/2018, có tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo quy định. Trong thời gian làm việc tại Văn phòng C2 - Thái Nguyên, Nguyễn Thị Phương L được Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên xác nhận là người tập sự do Công chứng viên Dương Thị Kim C1 hướng dẫn từ ngày 01/6/2021 đến ngày 01/6/2022 và được Dương Thị Kim C1 phân công tiếp nhận hồ sơ của khách hàng, soạn thảo hợp đồng, kiểm tra giấy tờ bản gốc (giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu...) của khách hàng, đối chiếu, nhận dạng đồng thời hướng dẫn khách hàng ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên.
Tuy nhiên, trong thời gian tập sự Nguyễn Thị Phương L được giao tiếp nhận hồ sơ, giấy tờ, soạn thảo hợp đồng, hướng dẫn và trực tiếp lấy chữ ký, điểm chỉ các bên khi thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/9/2021 giữa ông Đặng Ngọc X với Nguyễn Văn N; và Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 04/01/2022 giữa bà Đặng Thị M với Đặng Thị Huyền Đ; nhưng L đã không tuân thủ các quy định của Luật công chứng mà đã giao cho H3, H2 cầm Hợp đồng về hướng dẫn các bên giao kết ký, điểm chỉ. Sau đó, L tự viết, ký tên bà Đặng Thị M, ông Đặng Ngọc X vào Phiếu yêu cầu công chứng rồi trình Công chứng viên Dương Thị Kim C1 ký công chứng đối với 02 Hợp đồng nêu trên. Khi thực hiện nhiệm vụ công chứng 02 hợp đồng trên, Công chứng viên Dương Thị Kim C1 đã buông lỏng quản lý, không tuân thủ các quy định của pháp luật về công chứng, tạo điều kiện để Nguyễn Văn N và Đặng Thị Huyền Đ chuyển quyền sử dụng đất của ông X và bà M sau đó mang thế chấp Ngân hàng V chi nhánh T2 chiếm đoạt số tiền 1.800.000.000 đồng.
Hiện ông X, bà M đề nghị trả lại giấy CNQSDĐ; anh Trần Văn T đề nghị vợ chồng Đ-N phải trả số tiền: 150.000.000 đồng; Ngân hàng V chi nhánh T2 đề nghị vợ chồng Đ-N phải trả số tiền: 2.481.482.819 đồng.
Ngày 16/6/2023, Dương Thị Kim C1 giao nộp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 13/9/2021; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022 và các giấy tờ liên quan đến 02 hợp đồng nêu trên.
Khám xét nơi ở và nơi làm việc của Dương Thị Kim C1 tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên và tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả: Không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án.
* Các bản kết luận giám định, định giá tài sản:
- Bản Kết luận giám định số 737 ngày 31/5/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Giấy CNQSDĐ số DC 356158, cấp ngày 24/8/2021 đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ địa chính 18, diện tích 906m² mang tên Đặng Thị Huyền Đ, niêm phong ký hiệu A: Chữ ký Kiều Quang K2 trên mẫu cần giám định so với mẫu so sánh không phải cùng một người ký ra; Hình dấu tròn trên mẫu cần giám định là giả bằng phương pháp in phun màu. 02 bản “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 30/3/2022”, niêm phong ký hiệu A1: Chữ ký, viết mang tên Đặng Thị Huyền Đ do cùng một người ký, viết ra; Chữ ký viết mang tên Trần Văn T do cùng một người ký, viết ra.
- Bản Kết luận giám định số 892A ngày 24/6/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: 02 bản “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 30/3/2022”: Dấu vân tay dưới mục Bên chuyển nhượng (Bên A), niêm phong ký hiệu A1 so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Đặng Thị Huyền Đ là do cùng một người in ra; dấu vân tay dưới mục Bên nhận chuyển nhượng (Bên B) so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Trần Văn T là do cùng một người in ra.
- Bản Kết luận giám định số 911 ngày 28/6/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận:
+ Chữ ký và hình dấu tròn trên mẫu giám định giấy CNQSDĐ số Đ 296708, do UBND huyện P cấp năm 2021 cho hộ bà Đặng Thị M, số thửa 260, tờ bản đồ số 18, địa chỉ xã S, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, niêm phong ký hiệu A5, được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.
+ Chữ ký “Đ”, chữ viết đề tên “Đặng Thị Huyền Đ” ở mục “Bên B” tại trang cuối hợp đồng và tại từng trang của “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6 so với chữ viết, chữ ký của Đặng Thị Huyền Đ là do cùng một người ký, viết ra.
+ Chữ ký “Mây”, chữ viết đề tên “Đặng Thị M” ở mục “Bên A” tại trang cuối hợp đồng và tại từng trang của “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6 so với chữ viết, chữ ký của Đặng Thị M không phải do cùng một người ký, viết ra.
Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết đề tên “Đặng Thị M” ở mục “Bên A” tại trang cuối hợp đồng và tại từng trang của “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6 so với chữ viết, chữ ký của Triệu Thị B (mẹ đẻ Niêm), có phải do cùng một người ký, viết ra hay không.
+ Chữ ký “Xích”, chữ viết đề tên “Đặng Ngọc X” ở mục “Bên A” tại trang cuối hợp đồng và tại từng trang trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 13/9/2021”, niêm phong ký hiệu A7 so với chữ ký, chữ viết của Đặng Ngọc X là do cùng một người ký, viết ra.
+ Chữ ký “Niêm”, chữ viết đề tên “Nguyễn Văn N” ở mục “Bên B” tại trang cuối hợp đồng và tại từng trang trên “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 13/9/2021”, niêm phong ký hiệu A7 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn N tại “Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, đề ngày 28/9/2021” và “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số 1183513.21, đề ngày 28/9/2021” là do cùng một người ký, viết ra.
+ Chữ ký “Niêm”, chữ viết đề tên “Nguyễn Văn N” ở mục “Bên B” tại “Hợp đồng ủy quyền, đề ngày 13/9/2021”, niêm phong ký hiệu A8 so với mẫu chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn N tại “Phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, đề ngày 28/9/2021” và “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số 1183513.21, đề ngày 28/9/2021” là do cùng một người ký, viết ra.
- Bản Kết luận giám định số 1071, ngày 18/7/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận:
+ Dấu vân tay ở mục “Bên B” tại “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6 so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Đặng Thị Huyền Đ là do cùng một người in ra.
+ Dấu vân tay ở mục “Bên A” tại “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6 so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Nguyễn Văn N tại “Tờ khai chứng minh nhân dân và bản sao danh chỉ bản” là do cùng một người in ra.
Dấu vân tay ở mục “Bên A” tại “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, đề ngày 04/01/2022”, niêm phong ký hiệu A6; không trùng với dấu vân tay của Đặng Thị M, Đặng Thị Huyền Đ, Triệu Thị B.
+ Dấu vân tay ở mục “Bên A” tại “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 13/9/2021”, niêm phong ký hiệu A7 so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Đặng Ngọc X là do cùng một người in ra.
+ Dấu vân tay ở mục “Bên B” tại “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề ngày 13/9/2021”, niêm phong ký hiệu A7 so với dấu vân tay in ở ngón trỏ phải của Nguyễn Văn N tại “Tờ khai chứng minh nhân dân, Bản sao danh chỉ bản và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, số 1183513.21, đề ngày 28/9/2021” là do cùng một người in ra.
- Bản Kết luận giám định số 1073, ngày 19/7/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Đối với: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số DĐ 790896”, ký hiệu B. “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DD 724141”, ký hiệu C (do Ngân hàng V chi nhánh T2 giao nộp):
+ Chữ ký mang tên Kiều Quang K2 trên mẫu cần giám định (ký hiệu B, C) so với chữ ký trên mẫu so sánh, là do cùng một người ký ra.
+ Hình dấu tròn đỏ có nội dung “CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM ★TỈNH THÁI NGUYÊN★ SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG” trên mẫu cần giám định (ký hiệu B, C), được đóng dấu trực tiếp và do cùng một con dấu đóng ra.
+ Phôi mẫu cần giám định (ký hiệu B, C) là thật.
- Bản Kết luận giám định số 1629 ngày 15/10/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị Huyền Đ trên mẫu cần giám định, gồm: Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất (ký hiệu D); Bản cam kết (ký hiệu Đ); Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (ký hiệu E); Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất (ký hiệu F); Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (ký hiệu G) so với chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị Huyền Đ trên mẫu so sánh (Mẫu chữ ký của Đ, ký hiệu M4; Bản tự khai của Đ, ký hiệu M33), không phải do cùng một người ký, viết ra.
- Bản Kết luận giám định số 691A ngày 21/5/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận:
+ Chữ ký mang tên Dương Thị Kim C1 dưới mục “Công chứng viên” và các chữ ký ở góc cuối bên phải trên mẫu cần giám định, gồm: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đề ngày 04/01/2022, niêm phong ký hiệu A6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 13/9/2021, niêm phong ký hiệu A7. Hợp đồng ủy quyền đề ngày 04/1/2022, niêm phong ký hiệu A8 so với mẫu chữ ký mang tên Dương Thị Kim C1 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 (bản thu mẫu chữ ký), là do cùng một người ký ra.
+ Hình dấu trong đỏ dưới mục “Công chứng viên” trên mẫu cần giám định ký hiệu A6, A7, A8 so với hình dấu có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M2 (bản cung cấp mẫu con dấu giám định), là do cùng một con dấu đóng ra.
- Bản Kết luận giám định số 891 ngày 09/7/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận:
+ Chữ ký, chữ viết mang tên Đặng Thị M, Đặng Thị Huyền Đ trên mẫu cần giám định, gồm: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản đề ngày 04/01/2022, niêm phong ký hiệu L1, L2. Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản đề ngày 13/9/2021, niêm phong ký hiệu L3. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đề ngày 04/01/2022, niêm phong ký hiệu A6 so với chữ ký, chữ viết niêm phong ký hiệu L5 (Bản tự khai, bản tường trình ngày 06/5/2023 của Nguyễn Thị Phương L), là do cùng một người ký, viết ra.
Chữ viết tại dòng 6, 7 trên mẫu cần giám định niêm phong ký hiệu L1, L2, L3 so với mẫu chữ viết trên mẫu so sánh ký hiệu L5, là do cùng một người viết ra.
+ Không đủ cơ sở kết luận chữ ký, chữ viết dưới chữ ký mang tên Đặng Ngọc X trên mẫu cần giám định niêm phong ký hiệu L3 so với chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Thị Phương L trên mẫu so sánh niêm phong ký hiệu L5 có phải do cùng một người ký, viết ra hay không.
- Bản Kết luận định giá tài sản số 150 ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Thửa đất số 440 tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² (Đất ở tại nông thôn: 70m², đất trồng cây lâu năm: 506m²), địa chỉ thửa đất: Xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên có giá trị: 116.200.000 đồng.
- Bản Kết luận định giá tài sản số 151 ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Thửa đất số 260 tờ bản đồ số 18, diện tích 906m² (Đất ở tại nông thôn: 400m², đất trồng cây lâu năm: 506m²), địa chỉ thửa đất: Xã S, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên có giá trị: 442.504.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
- + 01 USB nhãn hiệu Kingston chứa dữ liệu Video hình ảnh ông Đặng Ngọc X ký, điểm chỉ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho Nguyễn Văn N, do Phạm Ngọc H2 giao nộp, niêm phong ký hiệu A'.
- + 01 bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 356158 cấp ngày 24/8/2021, niêm phong ký hiệu A.
- + 02 bản gốc “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đề ngày 30/3/2022, số 823, quyển 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được Văn phòng C2, niêm phong ký hiệu A1.
- + 01 bản gốc “Tờ khai thuế thu nhập cá nhân” đề ngày 30/3/2022 tại mục “Người nộp thuế hoặc Đại diện hợp pháp của người nộp thuế” có chữ ký đề tên Đặng Thị Huyền Đ, niêm phong ký hiệu A2.
- + 01 niêm phong ký hiệu A3, bên trong có: 01 bản gốc “Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất” đề ngày 26/4/2022 người viết đơn Trần Văn T. 01 bản gốc “Bản cam kết” đề ngày 26/4/2022 người viết đơn Trần Văn T. 01 bản gốc “Tờ khai lệ phí trước bạ” đề ngày 26/4/2022 tại mục “Người nộp thuế hoặc Đại diện hợp pháp của người nộp thuế hoặc Tổ chức, cá nhân được ủy quyền khai thay” có chữ ký đề tên Trần Văn T. 01 bản gốc “Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp” đề ngày 30/3/2022 tại mục “Người nộp thuế hoặc Đại diện hợp pháp của người nộp thuế” có chữ ký đề tên Trần Văn T.
- + 01 bản gốc “Giấy tiếp nhận và hẹn kết quả” ghi ngày 26/4/2022 tại mục “người tiếp nhận hồ sơ” có chữ ký đề tên Nguyễn Thu H4 và tại mục “Người nộp hồ sơ” có chữ ký đề tên Trần Văn T, niêm phong ký hiệu A4.
- + 01 bản gốc “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, số Đ 296708 không đề ngày và tháng cấp chỉ đề năm 2021, tại mục “Vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Số” chỉ ghi “Số... QSDD/...352/2001QĐ-UB/H", niêm phong ký hiệu A5.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh buổi lấy lời khai Đặng Ngọc X ngày 30/5/2023.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh buổi lấy lời khai Đặng Thị M ngày 29/5/2023.
- + 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình có âm thanh buổi hỏi cung bị cáo Đặng Thị Huyền Đ ngày 08/6/2023.
- Số tiền 20.000.000 đồng do bị cáo Dương Thị Kim C1 và gia đình nộp cho Cơ quan điều tra, đang được lưu giữ tại tài khoản của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Tại bản cáo trạng số 99/CT–VKS- P2, ngày 10/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đặng Thị Huyền Đ về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Dương Thị Kim C1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Người bị hại anh T đề nghị Đặng Thị Huyền Đ và Nguyễn Văn N phải trả đủ số tiền chiếm đoạt còn lại là 150 triệu đồng.
Đại diện nguyên đơn dân sự Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu bị cáo Đặng Thị Huyền Đ và chồng là Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 19/3/2024 là 2.481.482.819 đồng; và tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các điều khoản của hợp đồng đã ký kết cho đến khi bà Đ và ông N thanh toán xong các khoản cho Ngân hàng.
2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị Huyền Đ phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị cáo Dương Thị Kim C1 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
1.Về hình phạt:
1.1 Đối với bị cáo Đặng Thị Huyền Đ:
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 1 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Đặng Thị Huyền Đ phải chịu hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành bản án.
1.2. Đối với bị cáo Dương Thị Kim C1: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 360; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 360 Bộ luật hình sự: Cấm bị cáo hành nghề Công chứng trong 01 năm, sau khi chấp hành xong án phạt tù.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Dương Thị Kim C1 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Đặng Thị Huyền Đ trả cho anh Trần Văn T số tiền 75.000.000₫ (Bảy mươi lăm triệu) đồng.
Buộc bị cáo Đặng Thị Huyền Đ trả Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 1.230.741.409 đồng, bị cáo đã nộp 5.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0000437 ngày 15/4/2024 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên, bị cáo còn phải trả số tiền 1.225.541.409 đồng (Một tỷ, hai trăm hai mươi lăm triệu, năm trăm bốn mươi mốt ngàn, bốn trăm linh chín đồng), tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn phát sinh theo các điều khoản của hợp đồng đã ký tương ứng với số tiền chậm trả.
Ghi nhận bị cáo Dương Thị Kim C1 tự nguyện bồi thường cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền 20.000.000 đồng (theo ủy nhiệm chi số 255/441 ngày 03/11/2023)
Ghi nhận bị cáo Đặng Thị Huyền Đ đã tự nguyên bồi thường cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 số tiền 5.200.000 đồng (theo biên lai thu tiền số 0000437 ngày 15/4/2024 của Cục thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối với quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
...
4. Biện pháp tư pháp: Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 724141 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 21/9/2021, đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 18, số vào sổ CS00747, mang tên Nguyễn Văn N và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 790896 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 10/01/2022, đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 18, số vào sổ CS00035, mang tên Đặng Thị Huyền Đ cho Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2, tỉnh Thái Nguyên có trách nhiệm thu hồi 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên xử lý theo quy định và tiến hành các thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đặng Ngọc X bà Đặng Thị M theo quy định.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, phổ biến quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Kháng cáo: Ngày 22/4/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) kháng cáo một phần bản án sơ thẩm không đồng ý với nội dung Tòa tuyên xử: Buộc Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 chuyển 02 Giấy CNQSDĐ mà bị cáo Đ đã thế chấp tại Ngân hàng V cho Sở T để xử lý thu hồi theo đúng quy định của pháp luật và cấp lại bìa mới cho ông X, bà M; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét việc V là bên thứ 3 ngay tình và tuyên VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại 02 Giấy CNQSDĐ mà bị cáo Đ đã thế chấp tại Ngân hàng V để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của các bị cáo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.
4. Tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
4.2. Các bị cáo Đặng Thị Huyền Đ, Dương Thị Kim C1 không kháng cáo, vắng mặt và về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo quy định pháp luật.
4.3. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm, các Thẩm phán thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Ngày 22/4/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) kháng cáo là trong thời hạn luật định, nên hợp lệ, đề nghị xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Xét thấy, kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn dân sự, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22/4/2024, Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) kháng cáo là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều tiền không có khả năng trả nợ, nên từ tháng 7/2021 đến tháng 3/2022, vợ chồng Đặng Thị Huyền Đ - Nguyễn Văn N đã có hành vi mượn giấy CNQSDĐ của bà Đặng Thị M (là mẹ đẻ của Đ) rồi thuê người không quen biết trên mạng xã hội làm giả 02 giấy CNQSDĐ: 01 giấy CNQSDĐ giả mang tên bà M với mục đích để trả cho bà M khi bà M đòi; 01 giấy CNQSDĐ giả mang tên Đ thì vợ chồng Đặng Thị Huyền Đ và Nguyễn Văn N thế chấp giấy cho anh Trần Văn T để chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó, vợ chồng Đặng Thị Huyền Đ và Nguyễn Văn N tiếp tục mượn giấy CNQSDĐ của ông Đặng Ngọc X (là ông ngoại của Đ) rồi đến Văn phòng C2 tự làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông X sang tên Nguyễn Văn N, và làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất của bà M sang tên Đặng Thị Huyền Đ, rồi đem thế chấp giấy CNQSDĐ mang tên Đặng Thị Huyền Đ và giấy CNQSDĐ mang tên Nguyễn Văn N tại Ngân hàng V chi nhánh T2 để chiếm đoạt số tiền 1.800.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên, Công chứng viên Dương Thị Kim C1 là Trưởng Văn phòng C2, đã không thực hiện đúng các quy định của Luật Công chứng, tạo điều kiện cho vợ chồng Đ-Niêm hoàn thành được thủ tục công chứng và được cấp giấy CNQSDĐ, sau đó vợ chồng Đặng Thị Huyền Đ và Nguyễn Văn N đã sử dụng 02 giấy CNQSDĐ trên thế chấp Ngân hàng V chi nhánh T2 chiếm đoạt số tiền 1.800.000.000 đồng.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Huyền Đ 03 năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; và căn cứ điểm c khoản 3 Điều 360 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Thị Kim C1 42 tháng tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là đúng người, đúng tội.
Để bị cáo Đặng Thị Huyền Đ thực hiện được hành vi phạm tội của mình thì theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện có vai trò đồng phạm, giúp sức của những người như Nguyễn Văn N, Hứa Thế H1, Phạm Ngọc H2, Trần Văn H3, Nguyễn Thị Phương L và Nguyễn Thị Thu T1 ...lẽ ra, những người này cần phải được xem xét, đánh giá vai trò, trách nhiệm đồng phạm trong cùng vụ án khi xét xử bị cáo Đặng Thị Huyền Đ và bị cáo Dương Thị Kim C1; xong Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm chỉ truy tố và xét xử bị cáo Đặng Thị Huyền Đ và bị cáo Dương Thị Kim C1, tách vụ án để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, xử lý sau đối với hành vi của Nguyễn Văn N, Hứa Thế H1, Phạm Ngọc H2, Trần Văn H3, Nguyễn Thị Phương L và Nguyễn Thị Thu T1 là không đúng, không đảm bảo cho việc đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo và các cá nhân có tên trên trong vụ án, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại và nguyên đơn dân sự. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo không kháng cáo và Tòa án cấp sơ thẩm cung cấp Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 thể hiện đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 và điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đã phần nào khắc phục được những thiếu sót trên của Tòa án cấp sơ thẩm như đã nhận định, nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm về vấn đề này, mà cần rút kinh nghiệm và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của những người liên quan là đủ.
[3] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q1 VIB thì thấy:
[3.1] Lợi dụng sự tin tưởng của bà Đặng Thị M, ông Đặng Ngọc X và sự thiếu trách nhiệm của Văn phòng C2, vợ chồng N - Đ đã giả mạo chữ ký của bà M, ông X lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 440, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² đã được UBND huyện P cấp Giấy CNQSDĐ số BL607557 ngày 17/9/2012 mang tên Đặng Ngọc X chuyển nhượng cho Nguyễn Văn N; hợp đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 260, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² đã được UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy CNQSDĐ số U296708 ngày 25/9/2001 mang tên Đặng Thị M tặng cho Đặng Thị Huyền Đ; rồi kê khai đăng ký và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy CNQSDĐ số DD 724141 mang tên Nguyễn Văn N ngày 21/9/2021; và Giấy CNQSDĐ số DD 790896 mang tên Đặng Thị Huyền Đ ngày 10/01/2022. Xét thấy, về hình thức thì 02 Giấy CNQSDĐ do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho vợ chồng N - Đ là giấy tờ thật, xong về nội dung thì 02 Giấy CNQSDĐ này được xác lập dựa trên hợp đồng trái pháp luật do vợ chồng N - Đ tạo ra, nên không phải là tài sản của vợ chồng N - Đức, mà là vật chứng của vụ án chứng minh hành vi phạm tội của vợ chồng N - Đ; việc vợ chồng N - Đ đem 02 Giấy CNQSDĐ này đi thế chấp nhằm chiếm đoạt số tiền 1,8 tỷ đồng của Ngân hàng V là hành vi lừa đảo để chiếm đoạt; khi nhận thế chấp tài sản, Ngân hàng V không tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, xác minh, làm rõ chủ sở hữu hợp pháp của 02 thửa đất đã được sang tên trái pháp luật nêu trên là ai, hiện trên đất ai là người đang quản lý sử dụng, nên không có căn cứ cho rằng Ngân hàng V là bên thứ 3 ngay tình để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V về việc xử lý tài sản thế chấp. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Ngân hàng V chuyển giao 02 giấy CNQSDĐ này đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2 để Chi nhánh xử lý theo quy định là không chính xác, lẽ ra cần thu hồi để lưu hồ sơ vụ án làm căn cứ, chứng minh hành vi “Làm giả và sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” mới đúng; nay các bị cáo đã nhận tội, không kháng cáo về vấn đề này, việc chuyển 02 giấy CNQSDĐ này đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2 để xử lý và xem xét cấp lại Giấy CNQSDĐ cho ông X, bà M là phù hợp, nên xét thấy không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm về vấn đề này.
[3.2] Đối với Giấy CNQSDĐ số BL607557 do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 17/9/2012 đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² mang tên Đặng Ngọc X, và Giấy CNQSDĐ số U296708, do UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 25/9/2001, đối với thửa đất số 260, tờ bản đồ số 18, diện tích 620m² mang tên Đặng Thị M là những giấy tờ thuộc quyền sở hữu hợp pháp là của ông X, bà M cho các bị cáo mượn ngay tình đã bị các bị cáo sang tên bất hợp pháp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2 và hiện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2 lưu trữ và bấm lỗ không còn giá trị pháp lý, nên để bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho ông Đặng Ngọc X và bà Đặng Thị M, Tòa án cấp sơ thẩm buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C2 tiến hành các thủ tục cấp lại Giấy CNQSDĐ cho ông Đặng Ngọc X và bà Đặng Thị M theo quy định là đúng.
Do đó, kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 VIB là không có căn cứ, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V); Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
2. Án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được đối trừ 300.000 đồng dự phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000172 ngày 04/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên. Xác nhận Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (V) đã thi hành xong khoản tiền án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 876/2024/HSPT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về vụ án hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 876/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc ds
