Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH TÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 876/2024/DS-ST

Ngày: 06-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Trần Thị Kim Anh;
  • 2/ Bà Trần Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Hương – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 455/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 529/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 420/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M;

Địa chỉ: P, phường B, Quận n, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn P Q G, sinh năm 20xx (Xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Đặng K P, sinh năm: 19xx (Vắng mặt).

Địa chỉ: Đường số k, phường B, quận B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp cho Tòa án cũng như quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M trình bày:

Ngày 21/3/2022 Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M (sau đây gọi tắt là Công ty M) ký Hợp đồng tín dụng số 2981xxx về việc cấp tín dụng cho bà Đặng K P với khoản vay trị giá 30.000.000 đồng, lãi suất 45%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty M đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Đặng K P, số tiền giải ngân được Công ty M chuyển vào tài khoản cá nhân của bà Đặng K P. Theo hợp đồng tín dụng, bà Đặng K P có nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền 1.919.894 đồng (sau khi đã trừ phí dịch vụ thu hộ là 12.000 đồng) trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 25/4/2022 đến ngày 25/3/2024 cho Công ty M.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Đặng K P chỉ mới thanh toán cho Công ty M được 06 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 11.586.298 đồng (trong đó tiền gốc đã trả là 5.069.553 đồng, tiền lãi đã trả là 6.467.917 đồng và tiền phí đã trả là 48.828 đồng). Ngày 10/11/2022 đến nay, bà Đặng K P không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty M. Công ty M đã liên hệ nhắc nợ tuy nhiên, bà Đặng K P vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho phía Công ty M.

Do bà Đặng K P đã vi phạm hợp đồng nên Công ty M khởi kiện yêu cầu bà Đặng K P phải trả ngay cho Công ty M tổng số tiền tính đến ngày 06/9/2024 là: 54.169.586 đồng, trong đó: nợ gốc là 24.930.447 đồng; lãi trong hạn là 9.868.406 đồng, lãi quá hạn là 18.024.621 đồng; lãi chậm trả là 1.346.112 đồng. Bà Đặng K P còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi, phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng. Yêu cầu toàn bộ các khoản nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án phí sơ thẩm: Bà Đặng K P phải chịu theo quy định.

Bị đơn bà Đặng K P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng đã văng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của bà đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

- Đại diện nguyên đơn Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M có đơn xin văng mặt; Bị đơn bà Đặng K P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: Thụ lý vụ án, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, xác minh thu thập chứng cứ, Thông báo tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và các thủ tục tố tụng tại phiên tòa. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, quá trình giao dịch qua tài khoản thẻ của bà Đặng K P có cơ sở xác định bà Phụng có giao dịch thẻ và còn nợ Công ty M số tiền mà nguyên đơn yêu cầu. Do đó, nguyên đơn Công ty M yêu cầu bà Phụng phải thanh toán đầy đủ các khoản nợ trên, trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Đặng K P có địa chỉ cư trú tại quận Bình Tân, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng nên đây là tranh chấp hợp đồng dân sự. Căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; Bị đơn bà Đặng K P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn không tham gia cũng không có người đại diện tham gia phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M yêu cầu bà Đặng K P phải trả số tiền theo Hợp đồng tín dụng, tính đến ngày 06/9/2024 là 54.169.586 đồng, trong đó: nợ gốc là 24.930.447 đồng; lãi trong hạn là 9.868.406 đồng, lãi quá hạn là 18.024.621 đồng; lãi chậm trả là 1.346.112 đồng và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc còn lại. Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà Đặng K P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng, nhưng quá trình giải quyết vụ án bà vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa, bà cũng không gửi cho Tòa án trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ khác do Tòa án thu thập được để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập và do Công ty M cung cấp thì Công ty M và bà Đặng K P có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2981xxx ký ngày 21/3/2022 về việc cấp tín dụng cho bà Đặng K P, tổng số tiền vay là 30.000.000 đồng, thời hạn vay là 24 tháng, tính từ ngày ký hợp đồng, trả góp hàng tháng, lãi suất 45%/năm. Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty M đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Đặng K P, số tiền giải ngân được Công ty M chuyển vào tài khoản cá nhân của bà Đặng K P.

Theo hợp đồng tín dụng, bà Đặng K P có nghĩa vụ thanh toán là trả góp hàng tháng với số tiền là 1.919.894 đồng (sau khi đã trừ phí dịch vụ thu hộ là 12.000 đồng) trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 25/04/2022 đến ngày 25/03/2024 cho Công ty M. Nhưng đến nay bà Đặng K P chỉ mới thanh toán cho Công ty M 6 kỳ vào các ngày 25/04/2022, 27/05/2022, 25/06/2022, 29/07/2022, 16/09/2022, 09/11/2022 với số tiền là 11.586.298 đồng. Trong đó: số tiền gốc: 5.069.553 đồng, tiền lãi: 6.467.917 đồng, phí thu hộ: 48.828 đồng là vi phạm hợp đồng. Do đó, Công ty M khởi kiện yêu cầu bà Đặng K P phải trả cho Công ty M tổng số nợ gốc và các khoản lãi, phí phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký là có căn cứ phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Yêu cầu trả ngay một lần toàn bộ các khoản nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

[4]. Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Đặng K P phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hoàn lại cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 91, Khoản 1, Khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc bà Đặng K P có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/9/2024) là 54.169.586 đ (Năm mươi bốn triệu một trăm sáu mươi chín nghìn năm trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 24.930.447 đồng; lãi trong hạn là 9.868.406 đồng, lãi quá hạn là 18.024.621 đồng; lãi chậm trả là 1.346.112 đồng theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2981xxx ký ngày 21/3/2022. Trả một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bà Đặng K P còn phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh từ ngày 07/9/2024 cho đến khi bà Phụng trả hết số nợ trên theo mức lãi suất được thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2981xxx ký ngày 21/3/2022.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

2. Về án phí: Bà Đặng K P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.708.479₫ (Hai triệu bảy trăm lẻ tám nghìn bốn trăm bảy mươi chín đồng). Hoàn lại cho Công ty Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 904.428₫ (Chín trăm lẻ bốn nghìn bốn trăm hai mươi tám đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0000114 ngày 30/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Bình Tân;
  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Chi cục THA DS Q.Bình Tân;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Ngọc Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 876/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 876/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger