TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 872024/HS-ST Ngày: 18-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Thuỳ;
Ông Trần Đình Phấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Văn Đ, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm E, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và con bà Trần Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 04/6/2020, bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 01 năm 9 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 21/9/2021; bị tạm giữ từ ngày 08/7/2024 đến ngày 17/7/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1967; “vắng mặt”.
- Người chứng kiến: Anh Trần Đăng T; “vắng mặt”;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/7/2024, Vũ Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Viet Thai-VT RS, BKS: 18AA-058.35 từ nhà đến khu vực chợ xã G, huyện G, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Đ gặp một người đàn ông lạ mặt, không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có Heroine bán nên Đ hỏi mua 2.000.000 đồng. Người đàn
ông đồng ý bán, nhận tiền và đưa cho Đ 01 lọ nhựa màu nâu, bên trong có chứa: 19 đoạn ống nhựa nhỏ dạng ống hút màu đen, kích thước 3cm và 01 gói giấy nhỏ màu trắng, kích thước (2x1)cm, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. Đ xác định bên trong lọ nhựa chứa 19 đoạn ống nhựa và 01 gói giấy nhỏ đều là Heroine nên cất giấu vào trong túi áo khoác rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi đi đến khu vực nghĩa trang xã X, huyện X Đ dừng xe lấy gói nhỏ Heroine ra sử dụng một phần bằng hình thức hít, phần còn lại Đ cất vào ví da màu đen để ở gác baga xe mô tô. Sau đó, Đ lấy trong lọ ra 02 đoạn ống nhựa chứa H1 cầm ở tay phải để sử dụng trước, còn 17 đoạn ống nhựa trong lọ cất vào túi áo khoác. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, khi Đ đang đứng ở khu vực xóm D, xã X, huyện X thì Tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N đang làm nhiệm vụ phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác thu giữ 02 đoạn ống nhựa nhỏ Đ cầm ở tay phải; 01 lọ nhựa bên trong có 17 đoạn ống nhựa trong túi áo khoác Đ đang mặc và 01 gói giấy nhỏ trong ví đặt trên gác baga xe mô tô BKS 18AA-058.35, Đ khai nhận là Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của Đ số tiền 2.300.000 đồng trong 01 ví da màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, 01 xe mô tô nhãn hiệu Viet Thai-VT RS, BKS: 18AA-058.35 và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn Đ. Ngay sau đó, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N đã bàn giao Vũ Văn Đ cùng hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X để điều tra theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét tại nơi ở của Vũ Văn Đ, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 1278/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong gửi giám định đều là ma tuý, loại ma tuý Heroine, tổng khối lượng các mẫu lần lượt là: 0,166gam, 1,541gam, 0,065gam. Tổng khối lượng là 1,772 gam Heroine.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Cáo trạng số 81/CT-VKSXT, ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo cùng 01 lọ nhựa màu nâu. Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu đen, số tiền 2.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn Đ.
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/7/2024, tại khu vực xóm D, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Vũ Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,772 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của Vũ Văn Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy cùng chiếc ống nhựa.
[8] Đồi với 01 xe mô tô nhãn hiệu Viet Thai-VT RS biển kiểm soát: 18AA-058.35 là tài sản hợp pháp của ông Vũ Văn H (bố đẻ của Đ). Ông H không biết việc Đ lấy xe đi mua ma tuý để sử dụng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trả lại chiếc xe trên cho ông H quản lý sử dụng là phù hợp pháp luật.
[9] Đối với 01 ví da màu đen, số tiền 2.300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 căn cước công dân mang tên Vũ Văn Đ không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
[10] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Đ tại khu vực chợ G, huyện G, Đ khai không biết tên tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn chứng cứ, tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Vũ Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- - Xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2024.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1278/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N và 01 chiếc ống nhựa.
- - Trả lại cho bị cáo 01 ví da màu đen, số tiền 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi và 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Văn Đ.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 03/CCTHA ngày 29/10/2024 và Biên lai thu tiền số 0000100 ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Vũ Văn Đ phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |
Bản án số 872024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 872024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/7/2024, tại khu vực xóm 4, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Vũ Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép 1,772 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang.
