Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 872/2023/HS-PT

Ngày 21 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Cường

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đình Thanh

Ông Vũ Đức Toàn

- Thư ký phiên toà: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mậu Hưng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An G xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 613/2023/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Trung B do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của Người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An G.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Trung B, sinh ngày 28/02/1993; nơi sinh: Thành phố Long X, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số 14/5 khóm Thới Th, phường Mỹ Th, thành phố Long X, tỉnh An G; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; con ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1970 và bà Trương Thị C, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam ngày 14/9/2022; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung B: Ông Mai Ngọc T là Luật sư của Văn phòng luật sư Mai Ngọc T thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang; có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Số 14/4B, khóm Thới Th, phường Mỹ T, thành phố Long X, tỉnh An G; có mặt.

- Ngoài ra, trong vụ án này có có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không liên quan tới kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/9/2022, sau khi uống rượu, bị cáo Nguyễn Trung B điều khiển xe mô tô từ phường Thới Th, quận Thốt N, thành phố Cần Thơ đi về nhà tại khóm Thới Th, phường Mỹ Th, thành phố Long X, tỉnh An Giang. Khi đến khu vực cầu Cái Sắn L thuộc phường Mỹ Th, bị cáo B gặp Nguyễn Trung T đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều. Nhớ lại mâu thuẫn với T trong việc kinh doanh từ trước, bị cáo B nảy sinh ý định chém T để trả thù. Bị cáo B điều khiển xe chạy về xưởng hàn của B ở tổ 7, khóm Thới Th, phường Mỹ Th lấy 01 cây dao dài 50cm (cán bằng gỗ dài 15cm, lưỡi bằng kim loại dài 35cm, mũi nhọn) cầm trên tay phải và đi ra đứng đầu hẻm vào nhà của T đợi. Khi thấy T điều khiển xe mô tô chạy đến, bị cáo B cầm dao xông ra chém nhiều nhát, theo hướng từ trên xuống trúng vào vùng vai, hông, lưng của T, làm T đang điều khiển té ngã xuống mặt đường, sau đó Tam đứng lên bỏ chạy vào hẻm được khoảng 10m thì bị vấp ngã, bị cáo B đuổi theo xông đến tiếp tục cầm dao chém nhiều nhát trúng vào vùng đầu của T đang đội nón bảo hiểm và chân, tay của T. Lúc này, T dùng chân đạp vào vai của B làm B văng ra phía sau, T đứng lên bỏ chạy thoát vào nhà. Tam được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang cấp cứu, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Quân Y 7A tại Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục điều trị, đến ngày 04/10/2022 T xuất viện. Sau khi gây án, bị cáo Nguyễn Trung B đến Công an Phường Mỹ Th đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 510/22/TgT ngày 18/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh An G kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Người bị hại Nguyễn Trung T là 67%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 03/7/2023, Tòa án nhân dân tỉnh An G quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung B phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38 và Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung Bình 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2022.

Áp dụng: Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 201, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Nguyễn Trung B có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Trung T gồm: Chi phí điều trị cứu chữa thương tích là 44.000.000 đồng; tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh 3.500.000 đồng; tiền mất thu nhập của bị hại 21.000.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng. Tổng cộng 118.500.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 12/7/2023, bị cáo Nguyễn Trung B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 17/7/2023, ông Nguyễn Trung T kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Trung B giữ nguyên kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm án với lý do mức án 14 năm tù là nặng.

Người bị hại Nguyễn Trung T rút kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại, giữ nguyên kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Trung B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng khác và những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được chứng cứ giảm nhẹ đặc biệt mới. Đối với kháng cáo của Người bị hại, tại phiên tòa ông Nguyễn Trung T đã rút kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm; về phần hình phạt thì mức án 14 năm tù là thỏa đáng nên không có cơ sở tăng hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại, giữ nguyên mức án 14 năm tù đối với bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trung B trình bày:

Trong vụ án này, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn tình tiết tăng nặng, cha của bị cáo cũng đã khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường 30 triệu đồng cho người bị hại nhưng do người bị hại không nhận nên đã nộp cho Cơ quan điều tra; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phạm tội lần đầu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết này để xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Trung B đồng ý với quan điểm bào chữa của Luật sư.

Bị cáo Nguyễn Trung B nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và sửa chữa những lỗi lầm đã phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung B và Đơn kháng cáo của Người bị hại Nguyễn Trung T đúng quy định pháp luật và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trung B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Chỉ vì mâu thuẫn trong kinh doanh, bị cáo Nguyễn Trung B đã có hành vi dùng dao chém nhiều nhát vào vùng đầu, vai, hông, lưng, chân và 02 tay của ông Nguyễn Trung T. Bị cáo sử dụng hung khí sắc bén tấn công vào vùng hiểm yếu trên cơ thể nạn nhân làm cho nạn nhân bị thương tật tỷ lệ 67%. Mặc dù bị cáo khai không có ý định tước đoạt tính mạng của ông T nhưng việc sử dụng dao sắc đâm nhiều nhát vào những vùng trọng yếu trên cơ thể của anh T với thái độ hung hãn, quyết tâm cao là thể hiện ý thức của bị cáo chấp nhận hậu quả trong trường hợp người bị hại chết.

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Nguyễn Trung B đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội Giết người theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung B là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe của người bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an địa phương nên cần phải xử lý nghiêm. Trong vụ án này, bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm e khoản 1 Điều 52, đồng thời được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử phạt bị cáo mức án 14 năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới nên không có cơ sở xem xét giảm án cho bị cáo.

[2.3] Về kháng cáo của ông Nguyễn Trung T: Tại phiên tòa, ông T rút toàn bộ kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm. Về kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt, như đã phân tích ở trên, mức án 14 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Trung B là thỏa đáng nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo.

[3] Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung B và kháng cáo của Người bị hại Nguyễn Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Trung B và Người bị hại Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An G có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 348 và điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo của ông Nguyễn Trung T đề nghị tăng mức bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Trung B.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trung B và không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 38 và Điều 57 Bộ luật Hình sự 2015.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung B 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/9/2022.
  2. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trung B 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Trung B phải chịu 200.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng.
  4. - Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 03/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh An G;
  • - VKSND tỉnh An G;
  • - Cục THADS tỉnh An G;
  • - Công an tỉnh An G;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An G;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh An G;
  • - Lưu - NTTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 872/2023/HS-PT ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)

  • Số bản án: 872/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung B phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger