Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thanh Phương;
  2. Ông Bùi Xuân Hưởng;

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

  1. Trần Thị Bích K; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/02/1960 tại Lào Cai; Nơi cư trú: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); Bị cáo có chồng thứ nhất là Trần Anh D (đã chết), chồng thứ hai là Lê Văn X sinh năm 1954 (đang ly thân); Bị cáo có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1990;Tiền án: Không;Tiền sự: Không
  2. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/5/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L . Có mặt tại phiên tòa.

  3. Vũ Mạnh T1; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/8/1971 tại Lào Cai;
  4. Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn N sinh năm 1944 và bà Hoàng Thị Bình s năm 1949; Bị cáo có vợ là Đào Thị H sinh năm 1977 (đang ly thân); Bị cáo 01 con sinh năm 2007; Tiền án: Không tiền sự: Không. Nhân thân xấu: Có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” năm 2016, đã xóa án tích; 01 lần bị đưa đưa đi cai nghiện năm 2009, đã xóa tiền sự.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Trần Ngọc H1; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 31/7/1973 tại Lào Cai;
  6. Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc S (đã chết) và bà Nguyễn Thị P (đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Đ sinh năm 1977 (đã ly hôn); Bị cáo có 2 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án: Không;Tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/3/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ ngày 09/3/2024 Trần Thị Bích K đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Bị cáo Trần Thị Bích K mua của một ngươi nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) ở khu vực cầu C được 02 gói ma túy Heroine với giá 700.000 đồng rồi cất ở túi quần bên phải đang mặc sau đó đi về nơi bán hàng của Trần Thị Bích K. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/3/2024, bị cáo Vũ Mạnh T1 đang ở nhà tại tổ C, phường C, thành phố L thì nảy sinh ý định mua ma tuý Heroine về sử dụng nên đã gọi điện cho bị cáo Trần Ngọc H1 để nhờ H1 mua 800.000 đồng ma túy về cùng nhau sử dụng. Sau đó bị cáo Trần Ngọc H1 đã mua của bị cáo Trần Thị Bích K được 02 gói ma túy với giá 800.000 đồng. Bị cáo H1 và bị cáo T1 hẹn gặp nhau ở khu vực đường B, phường C, thành phố L để đưa ma túy cho Vũ Mạnh T1 nhưng do đông người nên do đông người nên bị cáo H1 mới nhận tiền của bị cáo T1 và chưa kịp đưa ma túy cho bị cáo T1. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày khi Trần Ngọc H1 đang ở khu vực đường Đ, phường C, thành phố L thì bị bắt giữ cùng tang vật. Trần Ngọc H1 khai nhận số ma túy trên là do bị cáo Vũ Mạnh T1 nhờ đi mua hộ để về cùng sử dụng.

Vào hồi 11 giờ 30 ngày 09/3/2024 khi Vũ Mạnh T1 đang đứng trước số nhà B đường D, tổ C, phường C, thành phố L thì bị Cơ quan công an tiến hành kiểm tra và bắt giữ. Bị cáo Vũ Mạnh T1 khai nhận đã đưa cho bị cáo Trần Ngọc H1 số tiền 800.000 đồng để mua hộ ma túy về sử dụng.

Khoảng 07 giờ ngày 09/5/2024, bị cáo Trần Thị Bích K đang bán bánh bao ở nơi bán hàng thì tiếp tục nảy sinh ý định mua ma tuý Heroine về bán kiếm lời. Bị cáoTrần Thị Bích K1 đi bộ đến khu vực đầu đường Thủy H2 gần đầu cầu C mua của một người nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) được 01 túi nilon, bên trong có chứa 09 gói ma túy Heroine với giá 1.350.000 đồng. Sau đó Trần Thị Bích K cất giấu số ma túy vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi về nhà và cất giấu túi ma túy vừa mua được trên nóc tủ bảo ôn. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Trần Thị Bích K lấy 01 gói ma tuý từ trong túi nilon có chứa 09 gói ma túý đã mua trước đó ra gói lại bằng lớp giấy ăn rồi cầm ở trong lòng bàn tay trái đi ra trước cửa nhà để tìm người mua ma túy thì bị kiểm tra và bắt giữ cùng tang vật.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 09/3/2024 và Tại Kết luận giám định số 108/KL-GĐMT ngày 14/3/2024 của Phòng K2 công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ ngày 09/3/2024 của Trần Ngọc H1 có khối lượng là: 0,756 gam là heroine.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và giao nhận đối tượng giám định ngày 09/5/2024 và kết luận giám định số 199/KL-GĐMT ngày 14/5/2024 của Phòng K2 công an tỉnh L xác định: Số ma túy thu giữ ngày 09/5/2024 của Trần Thị Bích K có khối lượng là: 3,362 gam là heroine.

Cáo trạng số 84/CT-VKS ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Thị Bích K về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Vũ Mạnh T1Trần Ngọc H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Thị Bích K, Vũ Mạnh T1, Trần Ngọc H1 về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích K từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng sung quỹ Nhà nước; Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị Bích K, Vũ Mạnh T1, Trần Ngọc H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến. Ngày 09/3/2024 và ngày 09/5/2024 bị cáo Trần Thị Bích K đã có 02 lần mua ma túy theo kết luận giám định tổng khối lượng ma túy bị cáo đã mua là 4,118gam heroine mục đích về để bán kiếm lời. Do vậy bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 điều 251 Bộ luật Hình sự.
  3. Bị cáo Vũ Mạnh T1Trần Ngọc H1 đã có hành vi mua ma túy theo kết luận giám định số ma túy đã mua có khối lượng là 0,756 gam là heroine mục đích cùng nhau sử dụng.

    Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trần Thị Bích K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Vũ Mạnh T1, Trần Ngọc H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

  4. [3] Về hình phạt:
  5. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xử phạt các bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

    Bị cáo Vũ Mạnh T1Trần Ngọc H1 là đồng phạm nhưng tính chất giản đơn. Bị cáo Vũ Mạnh T1 là người khởi xướng, trả tiền mua ma túy. Bị cáo H1 là người trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng. Các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ 0,765gam heroine.

  6. [4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
  7. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng

    Bị cáo Vũ Mạnh T1 có bố đẻ là ông Vũ Văn N, mẹ đẻ là bà Hoàng Thị B đều được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến. Bị cáo Trần Thị Bích K có anh trai là Trần Duy T2 được tặng Bằng khen có thành tích tham gia kháng chiến chống Mỹ. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T1 và bị cáo K là phù hợp với quy định của pháp luật.

    Bị cáo Vũ Mạnh T1 có nhân thân xấu: Năm 2016 bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” bị xử phạt 01 năm tù, đến nay đã được xóa án tích. Năm 2009 bị đưa đi cai nghiện, đến nay đã được xóa tiền sự.

  8. [5] Về hình phạt bổ sung:
  9. Bị cáo Vũ Mạnh T1, Trần Ngọc H1 không có tài sản riêng, không có thu nhập vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

    Đối với bị cáo Trần Thị Bích K bị cáo bị thu giữ số tiền 31.200.000 đồng, xác định đây là tài sản riêng của các bị cáo. Do vậy cần thiết phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị Bích K số tiền 20 triệu đồng để nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

  10. [6] Về vật chứng vụ án:
  11. Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, xét thấy heroin là thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

    Đối với số tiền 800.000 đồng mà bị cáo Trần Thị Bích K bán ma túy có được và số tiền 800.00 đồng thu giữ của bị cáo H1 là số tiền dùng để mua ma túy, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước là phù hợp;

    Đối với 03 điện thoại thu giữ của Trần Thị Bích K gồm: 01 điện thoại Nokia màu xanh bên trong gắn 01 thẻ sim, 01 điện thoại Nokia màu đen bên trong gắn 01 thẻ sim, 01 điện thoại Iphone màu vàng, bị cáo chỉ sử dụng để liên lạc hàng ngày, không sử dụng để mua bán ma túy, do vậy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp;

    Đối với 01 căn cước công dân thu giữ của bị cáo Trần Thị Bích K, xét thấy là giấy tờ tùy thân của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

    Đối với 01 điện thoại OPPO thu giữ của Trần Ngọc H1 và 01 điện thoại Iphone 6 thu giữ Vũ Mạnh T1, các điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc nhờ mua ma túy về sử dụng, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    Đối với số tiền tạm giữ của Trần Thị Bích K là 31.200.000 đồng và số tiền tạm giữ của Vũ Mạnh T1 là 400.000 đồng, xét thấy các bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí và khoản tiền phạt bổ sung nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, số tiền còn lại sau khi đã khấu trừ trả lại cho các bị cáo.

  12. [7] Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
  13. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Mio Ultimo màu đỏ bạc, BKS: 24P4-7183 tạm giữ của Trần Ngọc H1. Quá trình điều tra chưa xác định được xe là tài sản của ai nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chiếc xe trên để điều tra xác minh về nguồn gốc xe, xét thấy là phù hợp.

    Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Ferroli, màu xanh, BKS: 24FA-1916 tạm giữ của Vũ Mạnh T1. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của ông Vũ Văn N bố đẻ bị cáo T1, ông N không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cơ quan điều tra đã ra quyết định trả chiếc xe trên cho ông N, xét thấy là phù hợp.

    Đối với người nam giới không biết tên tuổi đã bán ma túy cho bị cáo Trần Thị Bích K vào ngày 09/3/2024 và người nam giới không biết tên tuổi đã bán ma túy cho bị cáo K vào ngày 09/5/2024. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, xét thấy là phù hợp.

  14. [8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:
  15. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp.

  16. [9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Thị Bích K 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Bích K 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng nộp Ngân sách Nhà nước.

    Tuyên bố các bị cáo Vũ Mạnh T1, Trần Ngọc H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Mạnh T1 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/3/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 09/3/2024.

  3. Về vật chứng:
  4. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: Còn lại sau trích mẫu giám định của mẫu M1: 0,296 gam ma túy Heroine, mẫu M2: 0,287 gam ma túy Heroine thu giữ của Trần Ngọc H1 cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K2 Công an tỉnh L. Trên một mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Ngọc H1 tại tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 09/3/2024”; Còn lại sau trích mẫu giám định của mẫu M1: 0,282 gam ma túy Heroine, mẫu M2: 2,766 gam ma túy Heroine cùng toàn bộ niêm phong túi gói cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K2 Công an tỉnh L. Trên một mặt bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang và khi khám xét nơi ở của Trần Thị Bích K ngày 09/5/2024 tại tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ”.

    Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại đi động nhãn hiệu OPPO màu đỏ, số IMEI1:869686030809772, có gắn 01 thẻ sim bên trong (đã qua sử dụng, mà hình có vết nứt, vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong máy) thu giữ của bị cáo Trần Ngọc H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số Imei: 355394074532027, gắn 01 thẻ sim bên trong (tình trạng cũ, đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Vũ Mạnh T1.

    Trả lại cho bị cáo Trần Thị Bích K: 01 điện thoại Nokia màu xanh, số seri1:357723107284958 gắn 01 thẻ sim bên trong (tình trạng cũ, đã qua sử dụng); 01 điện thoại Nokia màu đen, số I: 357332564073142 gắn 01 thẻ sim bên trong (tình trạng cũ, đã qua sử dụng); 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu vàng, số Imei: 356695086385041, không gắn thẻ sim (tình trạng cũ, đã qua sử dụng);

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);

    Truy thu số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Thị Bích K để nộp Ngân sách nhà nước;

    Tịch thu số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo H1 để nộp Ngân sách Nhà nước theo giấy nộp tiền ngày 10/6/2024, nộp vào tài khoản số 3949.0.9049863, chủ tài khoản Công an thành phố L.

    Tiếp tục tạm giữ số tiền 31.200.000 đồng của bị cáo Trần Thị Bích K và số tiền 400.000 đồng thu giữ của Vũ Mạnh T1 để đảm bảo thi hành án theo giấy nộp tiền ngày 10/6/2024, nộp vào tài khoản số 3949.0.9049863, chủ tài khoản Công an thành phố L. Số tiền còn lại là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng trả lại cho bị cáo Trần Thị Bích K; Số tiền còn lại là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) trả lại cho bị cáo Vũ Mạnh T1.

  5. Về án phí:
  6. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS thành phố Lào Cai;
  • - Công an TP Lào Cai (2);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Các bị cáo (3);
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; TA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần T Bích K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b k2 điều 251 BLHS; Trần Ngọc H và Vũ Mạnh T "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c k 1 đ 249 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger