TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HS - ST.
Ngày: 11/6/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân.
Bà Thạch Thị Lan Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST - HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn N; sinh năm 1986; tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Đặng Thị N1; vợ Hoàng Thị Đ1 (Đã ly hôn), bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên Tòa.
+ Bị hại:
- Ông Nguyễn Huy A, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Ông Vương Mạnh N2, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Đã chết.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 05/10/2015, khi ngồi nhậu cùng Nguyễn Công Đ2, sinh năm 1987, HKTT: thôn M, xã H, huyện L và Vũ Hoài V, sinh năm 1996, HKTT: TDP G, thị trấn Đ, huyện L tại quán “Mái Lá” thuộc thị trấn Đ, huyện L thì Trần Văn N, sinh năm 1986, HKTT: Thôn M, xã H, huyện L được Đ2 nói lại sự việc trước đó Đ2 đã căn dặn các anh Vương Mạnh N2, sinh năm 1982, HKTT: Thôn F, xã T, huyện L; Nguyễn Tiến D, sinh năm 1991, HKTT: thôn T, xã T, huyện L; Nguyễn Huy A, sinh năm 1971, HKTT: thôn M, xã H, huyện L là những đồng nghiệp cùng hãng chạy xe Taxi “LaDo” với Đ2 về việc không đóng đủ tiền thu được trong ngày khi chạy xe về cho Công ty để cho anh quản lý Công ty nghỉ việc nhưng anh N2, D, Huy A vẫn đóng nên Đ2 bực tức về việc này và rủ N, V gọi các anh N2, D, Huy A lên nhà trọ của Đ2 để đánh dằn mặt vì không chịu nghe lời của Đương thì N và V đồng ý.
Đến 13 giờ 30 cùng ngày, sau khi nhậu xong thì N cùng Đ2, V đi bộ đến nơi anh N2 đang đậu xe Taxi ở bờ hồ vị trí phía trước cổng UBND huyện L thuộc thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Đương thấy anh N2 đang ngồi trên xe Taxi đợi khách nên đi đến nói anh N2 chở cả bọn về nhà trọ của Đ2 tại thôn T, xã Đ, huyện L thì anh N2 đồng ý. Sau đó, N cùng Đ2, V lên xe Taxi của anh N2 và anh N2 điều khiển xe chở cả ba lên nhà trọ của Đ2. Đến nơi, Đ2 nói anh N2 đi theo mình vào trong nhà trọ để nói chuyện thì anh N2 đi theo. Khi anh N2 vào trong nhà thì N nói V khóa cửa nhà lại nhằm giữ không cho anh N2 bỏ chạy. Viễn lấy ổ khóa dùng để khóa cửa chính nhà trọ của Đ2 khóa chốt cửa chính ra vào lại từ phía bên trong. Cả bọn nói anh N2 đi vào ngồi trên ghế tại bàn uống nước ở phòng khách rồi Đương ngồi nói chuyện với anh N2 về việc không chịu nghe lời mình mà vẫn đóng tiền thu hàng ngày về cho Công ty. Khi Đ2 đang nói chuyện với anh N2 thì N lao vào dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người và mặt của anh N2. N đánh xong thì Đ2 bắt anh N2 đi vào phòng ngủ của mình liền kề phòng khách rồi lấy một móc quần áo được làm bằng thép vuốt thẳng ra và cầm đánh vào chân và lưng anh N2. Khi Đ2 đánh anh N2 thì V cũng lao vào dùng tay đánh 5 đến 6 cái vào mặt và người của anh N2. Sau đó, N cùng V đưa anh N2 từ phòng ngủ của Đ2 đi xuống gian phòng bếp rồi tiếp tục dùng tay, chân đánh anh N2 và bắt anh N2 ngồi vào trong gầm của kệ bếp không được đi đâu. Do sợ tiếp tục bị đánh nên anh N2 lấy số tiền 700.000đồng có sẵn trong túi áo của mình ra đưa cho N nhằm để cho N không đánh mình nữa thì N cầm số tiền này cất vào túi của mình. Lúc này, anh N2 vẫn ngồi trong gầm kệ bếp thì có người gọi đến điện thoại của anh Nhất 1 điện thoại nhãn hiệu OPPO. Nghe thấy có chuông điện thoại gọi đến cho anh N2 thì N sợ anh N2 nghe điện thoại sẽ nói lại sự việc đang bị đánh và giữ trong nhà Đ2 để người gọi đến báo Công an nên N nói anh N2 đưa máy điện thoại cho
N để kiểm tra. Sau khi kiểm tra điện thoại thấy không có vấn đề gì thì N đưa lại điện thoại cho anh N2. Khi đưa điện thoại cho anh N2 thì N đồng thời nói điện thoại đẹp bảo anh N2 cho N thì anh N2 nói N cứ cầm lấy rồi Nam đút điện thoại vào trong túi quần của mình. Sau đó, N nói V khóa cửa bếp đi ra khu vực vệ sinh sau nhà lại để anh N2 không bỏ chạy ra khỏi nhà bằng đường cửa bếp này thì V lấy một sợi dây điện màu xanh dài khoảng 1m có sẵn trong phòng bếp cột khóa cửa lại từ bên trong rồi cả hai đi lên phòng khách. Trong lúc anh N2 ngồi trong gầm bếp thì V, N thỉnh thoảng đi xuống bếp để trông chừng anh N2. Sau khi để anh N2 ở dưới bếp thì Đ2 tiếp tục gọi điện thoại cho anh Huy A lên nhà trọ thì anh Huy A cùng anh Nguyễn Văn L cũng là tài xế Taxi “LADO” đi lên nhà trọ của Đ2. Khi anh Huy A và L đến thì V mở ổ khóa cửa cho cả hai vào rồi lại khóa cửa lại. Đ2 tiếp tục nói về việc anh Huy A không nghe lời Đương thì V cùng N đưa anh Huy A đi xuống phòng bếp và chỉ cho anh Huy A thấy anh N2 bị đánh đang ngồi dưới gầm bếp rồi sau đó N, V dùng tay, chân đánh 4 đến 5 cái vào người anh Huy A. Đánh xong thì N và V đưa anh Huy A lên phòng khách rồi Đ2 bắt anh Huy A vào phòng ngủ của mình tiếp tục dùng sợi dây thép của móc quần áo đánh 3 đến 4 cái vào người Huy A. Đ2 đánh xong thì N, V đưa anh Huy A xuống phòng bếp bắt ngồi vào vị trí của anh N2 dưới gầm bếp còn anh N2 được đưa lại lên ngồi ở trong phòng ngủ của Đ2. Lúc này, N nói V lấy ổ khóa cửa chính xuống khóa cửa bếp lại nhằm không để cho anh Huy A và anh N2 mở dây điện đang cột cửa bếp ra bỏ trốn thì V đi lên mở ổ khóa cửa chính mang xuống khóa cửa bếp lại còn sợi dây điện cột cửa bếp thì mang lên cột cửa chính lại. Tiếp điện thoại cho anh D nói đi lên nhà trọ của mình đồng thời gọi điện rủ Nguyễn Viết G, sinh năm 1993, HKTT: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là bạn đến nhà trọ của mình để chơi. Giáp đang ở phòng trọ của mình tại T, thị trấn Đ, L cùng với Nguyễn Viết H, sinh năm 1995, HKTT: TDP B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên cả hai cùng đi lên nhà trọ của Đ2. Khi G, H đến thì V ra mở dây điện cột cửa ra cho vào rồi lại khóa cửa nhà lại. Lúc này, anh Huy A, anh N2 được đưa lên ngồi tại phòng khách cùng Đương thì Giáp thấy anh Huy A, anh N2 bị đánh chảy nhiều máu nên G xin Đ2 để cho anh Huy A, anh N2 đi rửa mặt thì Đ2 đồng ý. Viễn mở ổ khóa cửa bếp cho anh Huy A, N2 đi ra rửa mặt, thay áo bị dính máu rồi đứng ở của bếp để canh chừng không cho anh N2, anh Huy A bỏ trốn. Sau khi anh Huy A, anh N2 rửa mặt xong thì V nói hai anh đi vào lại trong nhà và tiếp tục khóa cửa bếp lại. Khoảng 15 phút sau khi G, H tới thì anh D cũng đi đến nhà trọ của Đương thì V mở cửa cho anh D vào trong nhà và tiếp tục dùng sợi dây điện cột cửa chính lại. Anh Dũng vào nhà thì bị N đánh và đưa xuống phòng bếp sau đó được đưa lên lại phòng khách ngồi cùng anh Huy A, anh N2. Khi anh D ở phòng khách nhà Đương thì G cũng dùng tay đánh 2 cái vào người anh D. Sau đó, G và H đi về trước còn các anh Huy A, N2, D tiếp tục bị Đ2, N, V
giữ trong nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, thì Đ2, N, V mới mở cửa cho anh N2, Huy A, D đi ra khỏi nhà trọ của Đ2. Hậu quả các anh N2, Huy A, D bị thương tích nhẹ.
Cụ thể: Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 253/2015/TgT ngày 30/12/2015 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Vương Mạnh Nhất là 00%. Tổn thương do vật tày gây nên. Riêng đối với các anh Nguyễn Huy A, Nguyễn Tiến D không đi giám định thương tích và có đơn từ chối giám định thương tích của bản thân. Ngày 19/04/2016 và ngày 15/08/2016, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng lần lượt đưa Nguyễn Công Đ2 và Vũ Hoài V ra xét xử về tội “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 123 Bộ luật hình sự. Đối với hành vi dùng tay đánh anh D của Nguyễn Viết G, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Về phía Trần Văn N, sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì đã bỏ trốn lên thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, N đã bán chiếc điện thoại OPPO của anh N2 lấy số tiền 500.000đồng (Nam không xác định được cửa hàng cũng như địa chỉ nơi bán chiếc điện thoại trên) rồi đón xe khách đi qua tỉnh Đắk Nông rồi xuống tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương làm thuê nhiều nơi không cố định để lẩn trốn sự truy tìm của cơ quan Công an. Ngày 21/02/2024, Trần Văn N đã ra đầu thú tại cơ quan CSĐT Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng và khai nhận hành vi phạm tội như trên của mình.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (một) sợi dây điện dài 01m màu xanh; 04 (bốn) chiếc áo sơ mi màu trắng, dài tay có dính chất màu nâu; 02 (hai) sợi dây thép có một đầu xoắn lại chiều dài mỗi sợi là 68cm và 75cm. Đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử lý tịch thu và tiêu hủy tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được nhận định tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016 và Bản án số 45/2016/HSST ngày 15/08/2016. Đồng thời, bị hại Vương Mạnh N2 hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa tiến hành làm việc được, anh Nguyễn Tiến D đã chết vào năm 2023, anh Nguyễn Huy A không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không đặt ra để xem xét.
Tại bản cáo trạng số 95/CT - VKS ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Trần Văn N về tội: “Giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn N về tội: “Giữ người trái pháp luật”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 2 Điều 7; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 12 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (một) sợi dây điện dài 01m màu xanh; 04 (bốn) chiếc áo sơ mi màu trắng, dài tay có dính chất màu nâu; 02 (hai) sợi dây thép có một đầu xoắn lại chiều dài mỗi sợi là 68cm và 75cm. Đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử lý tịch thu và tiêu hủy tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được nhận định tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016 và Bản án số 45/2016/HSST ngày 15/08/2016. Đồng thời, bị hại Vương Mạnh N2 hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa tiến hành làm việc được, anh Nguyễn Tiến D đã chết vào năm 2023, anh Nguyễn Huy A không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không đặt ra để xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên Tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thực tế, có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/10/2015, bị cáo Trần Văn N cùng với đồng bọn đã có hành vi giữ người trái pháp luật đối với các anh Vương Mạnh N2, Nguyễn Huy A, Nguyễn Tiến D tại nhà trọ của đối tượng Nguyễn Công Đ2 ở thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 17 giờ cùng ngày. Hành vi của bị cáo Trần Văn N đã phạm vào tội: “Giữ người trái pháp luật”. Do bị cáo phạm tội đối với 03 người là anh N2, anh D và anh Huy A là tình tiết tăng nặng định khung được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Điều luật quy định một
hình phạt nặng hơn không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi Điều luật đó có hiệu lực thi hành. So sánh giữa quy định tại khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999 thì Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt cao hơn. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cá nhân, uy tín và danh dự của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong nhân dân, bị dư luận lên án, ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về quyền con người, gây mất an ninh trật tự địa phương. Mặc dù bị cáo được Đương rủ rê, tham gia với tư cách đồng phạm giúp sức, nhưng bị cáo đã tham gia rất tích cực, trực tiếp dùng tay chân để đánh anh N2, anh D và anh Huy A. Đồng thời bị cáo còn nói V khóa cửa bếp nhằm không cho anh N2 và anh Huy A bỏ chạy. Sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố thể hiện bản tính coi thường pháp luật.
Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo. Sau khi bỏ trốn bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Người bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định, phân tích nêu trên cân có hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát để bị cáo nhìn nhận lỗi lầm, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, biết sống tuân thủ pháp luật. Đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần bắt bị cáo ngay tại phiên tòa mà khi nào án có hiệu lực pháp luật mới bắt bị cáo đi thụ hình là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã được nhận định tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016 và Bản án số 45/2016/HSST ngày 15/08/2016. Đồng thời, bị hại Vương Mạnh N2 hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa tiến hành làm việc được, anh Nguyễn Tiến D đã chết vào năm 2023, anh Nguyễn Huy A không yêu cầu bồi thường về dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[4] Đối với hành vi của Trần Văn N lấy số tiền 700.000đ và chiếc điện thoại OPPO của anh Vương Mạnh N2. Quá trình điều tra xác định sau khi bỏ trốn lên thành
phố Đ, tỉnh Lâm Đồng bị cáo đã bán chiếc điện thoại cho một cửa hàng để lấy số tiền 500.000 đồng nhưng hiện bị cáo không nhớ được tên cửa hàng cũng như địa chỉ cửa hàng nơi bán điện thoại nên Cơ quan điều tra không thu hồi được tang vật để định giá làm căn cứ xử lý. Ngoài ra, hiện bị hại trong vụ án là Vương Mạnh N2 đã bỏ đi khỏi địa phương, không xác định được nơi cư trú nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc nhằm xác định các tình tiết liên quan. Người chứng kiến việc bị cáo lấy tiền và điện thoại của Vương Mạnh Nhất là Vũ Hoài V hiện không có mặt tại địa phương. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện L sẽ tách phần hành vi liên quan đến việc lấy tiền và điện thoại của bị cáo N để tiếp tục củng cố tài liệu, chứng cứ và xử lý sau.
[5] Về xử lý vật chứng: Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 (một) sợi dây điện dài 01m màu xanh; 04 (bốn) chiếc áo sơ mi màu trắng, dài tay có dính chất màu nâu; 02 (hai) sợi dây thép có một đầu xoắn lại chiều dài mỗi sợi là 68cm và 75cm. Đã được Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử lý tịch thu và tiêu hủy tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 19/04/2016.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/6/2024). Riêng bị hại vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Dũng |
Bản án số 87/2024/HS - ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (giữ người trái pháp luật)
- Số bản án: 87/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giữ người trái pháp luật)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Nam - giữ người trái pháp luật
