Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/DS-PT

Ngày 29/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng và bà Cao Thị Thanh Huyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1970; địa chỉ: Làng J, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Đức N, sinh năm 1961; địa chỉ: B L, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Trương Thị Thu T, sinh năm 1971 và ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1969; cùng địa chỉ: B L, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Nguyên đơn bà Trần Thị C và người đại diện theo ủy quyền của

nguyên đơn trình bày:

Do quen biết từ trước, bà Trần Thị C có cho bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P mượn nhiều lần tiền, tính đến tháng 6/2022 là tổng số tiền 330.000.000 đồng. Sau đó bà T và ông P có trả cho bà C số tiền 100.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 230.000.000 đồng, nên ngày 20/6/2022 bà T và ông P đã viết giấy mượn tiền cho bà C số tiền 230.000.000 đồng, không tính lãi, thời hạn hẹn đến ngày 20/12/2022 sẽ trả đủ. Sau khi đến hạn thì bà T và ông P không trả cho bà C mặc dù bà C đã đòi nhiều lần.

Trước đây giữa bà C và bà T có chơi hụi cùng nhau, nay bà C công nhận bà T đóng cho bà C số tiền hụi là 16.000.000 đồng theo như bản trình bày của bà T ngày 08/4/2024 là đúng và bà C đồng ý cấn trừ số tiền nợ hụi bà T vào số tiền nợ gốc 230.000.000 đồng như trên.

Nay nguyên đơn yêu cầu khởi kiện: Bà T và ông P phải trả cho bà C số tiền gốc còn nợ là 214.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày bà T và ông P vi phạm thời hạn trả nợ là ngày 21/12/2022 đến phiên tòa xét xử sơ thẩm ngày 19/4/2024 là 16 tháng 21 ngày với mức lãi suất 10%/năm tương đương 0.83%/tháng là 29.662.000 đồng.

1.2 Bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P trình bày:

Ngày 15/2/2018 bà T có vay của bà Trần Thị C số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000.000 đồng/tháng, mục đích để làm ăn. Sau đó bà có đóng lãi cho bà C được 3 tháng đến ngày 15/6/2018 thì bà không có khả năng trả lãi nên bà đã xin bà C cho bà không đóng lãi nữa.

Ngày 15/8/2018 bà có vay thêm bà C số tiền 11.000.000 đồng, cộng với số tiền bà nợ lãi bà C của số tiền nợ gốc 10.000.000 đồng là 9.000.000 đồng, 10.000.000 đồng tiền nợ gốc như trên. Bà viết cho bà C giấy mượn tiền số tiền tổng cộng là 30.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 9.000.000 đồng/tháng.

Do lãi suất quá cao nên bà không có khả năng trả số tiền nợ gốc và nợ lãi cho bà C. Sau đó bà có mượn tiền bà C nhiều lần để trả nợ lãi nên đến ngày 15/9/2020 tổng cộng bà công nhận và viết giấy mượn bà C số tiền 160.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 48.000.000 đồng/tháng. Do lãi suất tính quá cao và bà không có khả năng trả nên 10-20 ngày bà ký giấy mượn bà C số tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng mục đích trừ trong số tiền lãi bà chưa trả cho bà C chứ bà không nhận tiền.

Từ ngày 15/9/2020 đến ngày 11/12/2020 bà đã viết 06 giấy mượn tiền cho bà C tổng cộng số tiền là 330.000.000 đồng, trong đó bà công nhận chỉ có 01 giấy mượn tiền ngày 15/9/2020 bà công nhận và viết giấy mượn bà C số tiền 160.000.000 đồng còn 05 giấy mượn tiền còn lại chỉ là số tiền lãi của số tiền 160.000.000 đồng mà bà không trả được.

Sau đó bà C có đến nhà bà nhiều lần đòi bà trả cho bà C số tiền nợ gốc là 330.000.000 đồng, gia đình bà đã trả cho bà C số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 230.000.000 đồng thì không có khả năng trả nữa, nên bà và chồng bà là ông Nguyễn Văn P đã ký vào giấy mượn tiền ngày 20/6/2022 xác nhận còn nợ bà C số tiền 230.000.000 đồng, không tính lãi suất.

Ngoài ra khoảng tháng 02/2021 bà có chơi chân hụi với bà C, trong đó bà đã đóng cho bà C được 16.000.000 đồng tiền hụi.

Nay bà công nhận còn nợ bà C số tiền nợ gốc 230.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 20/6/2022, trừ số tiền 16.000.000 đồng bà đóng hụi cho bà C vào số tiền nợ gốc. Nay bà công nhận bà và ông P còn nợ bà C tổng cộng số tiền là 214.000.000 đồng, bà không đồng ý có nợ số tiền lãi vì trước đó bà đã cộng lãi dồn vào nhiều lần. Bà xin bà C cho bà và ông P trả số tiền trên bằng cách trả 6 tháng 50.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Ông Nguyễn Văn P trình bày: Do quan hệ quen biết từ trước từ năm 2018 đến năm 2021 giữa vợ ông là bà Trương Thị T có vay nặng lãi (cách tính lãi là 1.000.000 đồng một ngày tiền lãi là 10.000 nghìn đồng) nhiều lần tiền của bà Trần Thị C từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Vì cách tính nặng lãi như trên nên đến ngày 15/9/2020 sau khi cộng tiền nợ gốc và lãi chưa trả thì bà T có viết giấy mượn bà C số tiền 160.000.000 đồng. Với cách tính lãi như vậy, đến ngày 11/12/2020 bà T đã ghi cho bà C 06 giấy mượn tiền với tổng số tiền là 330.000.000 đồng.

Sau đó bà C đã nhiều lần đến nhà ông yêu cầu bà T trả số tiền đã vay nên gia đình ông đã trả cho bà C số tiền nợ gốc là 100.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 230.000.000 đồng. Bà C cùng một số người đến hăm dọa ép buộc bà T ghi giấy mượn tiền 20/6/2022, trong đó xác nhận còn nợ bà C số tiền nợ gốc 230.000.000 đồng và ông bị ép buộc ký tên vào giấy mượn tiền với tư cách là người làm chứng.

Nay ông không đồng ý với yêu cầu của bà C buộc vợ chồng phải liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng và lãi suất. Ông đề nghị xem xét giải quyết việc bà C cho vay nặng lãi và ép buộc ông ký vào giấy mượn tiền trên theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn P thay đổi một phần nội dung: Ông công nhận tự nguyện ký vào giấy mượn tiền 20/6/2022 để cùng trả nợ cho vợ ông là bà Trương Thị T số tiền nợ gốc 230.000.000 đồng. Nay ông công nhận ông và bà Trương Thị T còn nợ bà C số tiền là 214.000.000 đồng theo trình bày của bà T tại phiên tòa. Ông không đồng ý trả lãi vì ông và bà T không có khả năng trả lãi, đồng thời ngày 20/6/2022 bà C thỏa thuận không tính lãi nên ông mới đồng ý ký vào giấy mượn tiền. Ông xin bà C cho ông và bà T trả số tiền trên bằng cách trả 6 tháng 50.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

- Căn cứ vào các Điều 274; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 91, 93, 94, 96, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/9/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị C.

Buộc bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P phải trả cho nguyên đơn Trần Thị C số tiền 243.662.000 đồng (hai trăm bốn mươi ba triệu sáu trăm sáu hai nghìn đồng). Trong đó số tiền nợ gốc là 214.000.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu đồng) và số tiền lãi là 29.662.000 đồng (hai mươi chín triệu sáu trăm sáu hai nghìn đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

3. Về kháng cáo, kháng nghị:

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P có đơn kháng cáo về việc đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án cấp sơ thẩm.

- Nguyên đơn bà Trần Thị C không kháng cáo.

- Bản án không bị kháng nghị.

4. Diễn biến tại phiên tòa:

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về lãi và yêu cầu bị đơn là bà T và ông P phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc 214.000.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu đồng).

Bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án cấp sơ thẩm. Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 214.000.000 đồng nhưng cho rằng đây là số tiền gốc và lãi cộng dồn, đề nghị thanh toán bằng phương thức trả nhiều lần cho đến khi hết nợ vì bị đơn đã mất khả năng thanh toán. Đồng ý với việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về lãi.

Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ khoản 1, 4 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Hủy và đình chỉ giải quyết một phần đối với yêu cầu về lãi. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần buộc bị đơn là bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P phải trả cho nguyên đơn Trần Thị C số tiền gốc 214.000.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu đồng). Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn là bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P về việc yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Nguyên đơn bà Trần Thị Cúc cung c “Giấy mượn tiền” đề ngày 20/6/2022 có chữ ký và ghi tên của bên mượn tiền là bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P với số tiền 230.000.000đ, thời hạn trả nợ ngày 20/12/2022 (BL24). Bà T và ông P cũng thừa nhận có thỏa thuận mượn và lập giấy mượn tiền nêu trên nhưng cho rằng đây là số tiền có nợ lãi đã được cộng dồn thành nợ gốc.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P công nhận còn nợ số tiền nêu trên và ông bà có viết vào giấy mượn tiền, ông bà đều tự nguyện ký ghi rõ họ tên dưới mục người mượn tiền nên có căn cứ xác định chứng cứ “Giấy mượn tiền” đề ngày 20/6/2022 là đúng sự thật. Ông bà khẳng định có nợ bà C số tiền 230.000.000₫ nhưng đã đóng hụi số tiền 16.000.000đ, các bên đương sự đều thống nhất và đồng ý khấu trừ vào số tiền nợ gốc tại giấy mượn tiền ngày 20/6/2022 nên còn nợ lại số tiền 214.000.000đ. Như vậy, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lời trình bày của bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm, bà T và ông P còn nợ bà C số tiền 214.000.000đ là có thật.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Đến thời hạn trả nợ ngày 20/12/2022 nhưng bị đơn không trả được tiền nợ cho nguyên đơn nên nguyên đơn bà Trần Thị C đã khởi kiện buộc ông P và bà T trả cho bà C số tiền gốc 214.000.000 đồng. Nguyên đơn không đồng ý với đề nghị của bị đơn về phương thức trả số tiền nợ trên làm nhiều lần cho đến khi hết nợ như bị đơn trình bày. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Trần Thị C rút một phần yêu cầu khởi kiện về lãi. Do đó, đối với phần lãi mà cấp sơ thẩm đã tuyên cần hủy và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là phù hợp, đúng nguyện vọng và có lợi cho các bên đương sự.

[3]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, 4 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 274; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 91, 93, 94, 96, 147, 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/9/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P.

Hủy và đình chỉ một phần bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần tiền lãi.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần trả nợ gốc.

Tuyên xử:

Buộc bị đơn bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P phải trả cho nguyên đơn Trần Thị C số tiền nợ gốc là 214.000.000 đồng (hai trăm mười bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 10.700.000 đồng (Mười triệu, bảy trăm nghìn đồng).

Trần Thị C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trần Thị C số tiền 6.895.400 đồng (sáu triệu tám trăm chín lăm nghìn bốn trăm đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001173 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

4. Về án phí phúc thẩm: Trả lại cho bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001747 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • TAND thành phố Pleiku;
  • VKSND thành phố Pleiku;
  • Chi cục THA dân sự thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Lê Văn Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/DS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 87/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị Thu T và ông Nguyễn Văn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger