|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 29/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trịnh Văn Phương
- Bà Bế Thị Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2024/HSST ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 15/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàn Phụ C; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/02/2006 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao đỏ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12 PT; Họ và tên cha: Bàn Kiềm O - sinh năm 1986; Họ và tên mẹ: Triệu Mùi N - sinh năm 1980; cùng trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 chị em; Vợ, con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 14/12/2023 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Văn B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; có mặt.
- Bị hại: La Thị C1 - sinh năm 2007; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: bà Hoàng Thị T (mẹ đẻ của bị hại) - sinh năm 1985; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị T: ông La Văn K (anh trai của bị hại) - sinh năm 2003; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi liên quan:
- Ông Bàn Kiềm O - sinh năm 1986; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Trần Triệu B1 - sinh năm 1963; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Chu Thị P - sinh năm 1969; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Nông Văn T1 - sinh năm 1983; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Nguyễn Ích L - sinh năm 1982; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Triệu Xuân N1 - sinh năm 1985; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Nguyễn Thị H - sinh năm 1986; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Đàm Văn D - sinh năm 1983; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Đoàn Thị Thu H1 - sinh năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 30/9/2023 tại Km 245+800 quốc lộ C thuộc xóm N, xã H, thành phố C xảy ra một vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng. Xe mô tô biển kiểm soát 11U1-141.39 do Bàn Phụ C (sinh ngày 19/2/2006; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng) điều khiển chở La Thị C1 (sinh ngày:23/01/2007; Trú tại: xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng) đi theo hướng từ ngã tư K, xã H, thành phố C về huyện N, tỉnh Cao Bằng đã đâm vào thềm nhà dân ở lề đường bên trái. Hậu quả: La Thị C1 đã tử vong.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiếp nhận vụ việc, kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra tai nạn thuộc đoạn đường Km 245 + 800 QL34 thuộc xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường cong về bên phải hướng từ thành phố C đến huyện N, tỉnh Cao Bằng rồi tiếp tục cong về bên trái hướng từ thành phố C đến huyện N, tỉnh Cao Bằng; mặt đường phẳng, hai chiều xe chạy riêng biệt có vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường. Hiện trường được nhìn thống nhất từ thành phố C đến huyện N, tỉnh Cao Bằng. Lấy mép đường bên phải là (-), mép
đường bên trái là (+). Tại lề đường bên (+) có mương rộng 2,05m, phía trên mương có 01 thềm dốc bằng bê tông phía trước cửa nhà Trần Triệu B1 (sinh ngày 02/3/1963; Trú tại: xóm N, xã H, thành phố C) rộng 2m x 2,5m. Lòng đường rộng 6,5m. Lấy cột điện VT1 nằm trên lề đường bên trái hướng từ thành phố C đến huyện N, tỉnh Cao Bằng là điểm mốc (ký hiệu X), cách mép đường bên (+) là 2,5m; lấy vạch kẻ sơn vàng cách quãng phân cách giữa đường là (I). Lấy mép đường bên trái (+) làm chuẩn để đo đạc các dấu vết. Vị trí các dấu vết và phương tiện lần lượt như sau :
Dấu vết (1) là vết chà trên cỏ tại lề đường bên (+), có chiều hướng từ thành phố C đến N. Có kích thước 9,1m x 5cm. Đầu vết (1) cách mép đường bên (+) là 60cm, cách tâm vết (2) 9,1m, cách (I) 3,92m, cách điểm mốc (X) 5,12m. Cuối vết (1) cách mép đường bên (+) 90cm, cách điểm mốc (X) 4,7m.
Dấu vết (2) là vết nứt vỡ của thềm dốc bê tông phía trước cửa nhà ông Trần Triệu B1. Tại mép ngoài phía dưới bên trái thềm dốc có kích thước 23cm x 25cm, cao 13cm. T2 vết (2) cách mép đường bên (+) 89cm, cách đầu vết (3) 7,14cm, cách tâm vết (10) 19,7m, cách (I) 4,36m, cách điểm mốc (X) là 4,7m.
Dấu vết (3) là vết cày trên đất tại lề đường bên (+) có chiều hướng từ thành phố C đến N. Có kích thước 35cm x 10cm. Đầu vết (3) cách mép đường bên bên (+) 37cm, cách đầu vết (4) 1,04m, cách tâm vết (10) 12,1m, cách tâm vết (11) 17,9m, cách (I) 3,86m, cách điểm mốc (X) 11,79m. Cuối vết (3) cách mép đường bên (+) 26cm, cách điểm mốc (X) 12,1m.
Dấu vết (4) là vết cày trên đất tại lề đường bên (+) có chiều hướng từ thành phố C đến N. Có kích thước 33cm x 8cm. Đầu vết (4) cách mép đường bên (+) 41cm, cách điểm mốc (X) 12,79m. Cuối vết (4) cách mép đường bên (+) 45cm, cách điểm mốc (X) 13,03m.
Dấu vết (5) là vết chà màu đen có dính cao su màu đen trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến N. Có kích thước 28cm x 4cm. Đầu vết (5) cách mép đường bên (+) 24cm, cách đầu vết (6) 27cm, cách (I) 3,38m, cách điểm mốc (X) 13,47m. Cuối vết (5) cách mép đường bên (+) 24cm, cách điểm mốc (X) là 13,73m.
Dấu vết (6) là vết cày màu trắng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến N. Có kích thước 46cm x 1cm. Đầu vết (6) cách mép đường bên (+) 49cm, cách đầu vết (7) 1,22m, cách (I) 3,10m, cách điểm mốc (X) 13,57m. Cuối vết (6) cách mép đường bên (+) 48cm, cách điểm mốc (X) 14,2m.
Dấu vết (7) là vết cày màu trắng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến N chếch mép đường bên (-) có kích thước 50cm x 1cm. Đầu vết (7) cách mép đường bên (+) 76cm, cách đầu vết (8) 1,28m, cách (I) 2,82m, cách điểm mốc (X) 14,74m. Cuối vết (7) cách mép đường bên (+) 80cm, cách điểm mốc (X) là 15,17m.
Dấu vết (8) là vết cày màu trắng đứt quãng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến N chếch mép đường bên (-) có kích thước 8,45m x 1cm. Đầu vết (8) cách mép đường bên (+) 46cm, cách đầu vết (9) 1,8m, cách (I) 3,12m,
cách điểm mốc (X) 15,86m. Cuối vết (8) cách mép đường bên (+) là 2,04m, cách điểm mốc (X) 24,18m.
Dấu vết (9) là vết chà màu đen và cày màu trắng trên mặt đường có chiều hướng từ thành phố C đến N chếch mép đường bên (-) có kích thước 2,6 m x 22cm, độ rộng các vết chà lần lượt 1cm và 2cm. Đầu vết (9) cách mép đường bên (+) 1,4m, cách tâm vết (10) 6,91m, cách (I) 2,13m, cách điểm mốc (X) 17,52m. Cuối vết (9) cách mép đường bên (+)2,02m, cách điểm mốc (X) 20,09m.
Dấu vết (10) là vết dầu loang trên mặt đường có kích thước 1,9m x 1,71m. T2 vết (10) cách mép đường bên (+)1,5m, cách tâm vết (11) 6,7m, cách (I) 1,9m. cách điểm mốc (X) 24,24m.
Dấu vết (11) là vết máu, mũ bảo hiểm, dép trên lề đường bên (-) kích thước 1,5m x 80cm. T2 vết (11) cách mép đường bên (+)7m, cách (I) 4m, cách điểm mốc (X) 30,2m.
Dấu vết (12): xe mô tô biển kiểm soát 11H1 – 141.39 sau tai nạn đã dựng lên khỏi vị trí ban đầu ở trên lề đường bên (-). Đầu xe hướng về N, chếch về trong lề đường bên (-) ; đuôi xe hướng về thành phố C, chếch về mép đường (+). Trục bánh trước xe mô tô cách mép đường bên (+) 7,38m, cách (I) 4,23m, cách điểm mốc (X) 32,95m; Trục bánh sau cách mép đường bên (+) là 6,51m, cách tâm vết (11) 2,4m, cách (I) là 3,21m, cách điểm mốc (X) 31,89m.
Các dấu vết để lại hiện trường phù hợp với các dấu vết tại Biên bản khám nghiệm phương tiện xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39.
Quá trình điều tra xác định: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 30/9/2023, Bàn Phụ C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 chở La Thị C1 đi từ huyện N ra thành phố C chơi, đi cùng C và C1 còn có Triệu Thị S (sinh ngày 21/02/2009), Trương Thị Huyền T3 (sinh ngày 06/8/2009), cùng trú tại: xóm N, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng, Triệu Mùi P1 (sinh ngày 14/11/2008; Trú tại: xóm L, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng) và Đặng Mùi P2 (sinh năm 2009; Trú tại: xã Y, huyện T, tỉnh Cao Bằng). Cả nhóm chơi ở phố đi bộ Kim Đồng đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì đi về, khi đó C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 chở C1, Sao chở T3, P1 chở P2 đi từ đường V về hướng huyện N. Khi đến ngã tư K, xã H, tỉnh Cao Bằng, C chở C1 rẽ phải về hướng Bến xe khách liên tỉnh Cao Bằng để mua thuốc lá, còn Sao, T3, P1 và P2 đi về trước. Sau khi mua thuốc lá, C điều khiển xe mô tô chở C1 đuổi theo nhóm bạn. Khi đi đến Km245 + 800 Quốc lộ C thuộc xóm N, xã H, thành phố C, C điều khiển xe mô tô đi sang làn đường bên trái và đâm vào thềm dốc bê tông cổng nhà Trần Triệu B1. Sau va chạm, La Thị C1 bị ngã văng ra cạnh đường và sau đó đã tử vong.
Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do Bàn Phụ C điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, làn đường, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Tại thời điểm xảy ra tai nạn Cán không có giấy phép lái xe theo quy định, vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ.
Sau khi sự việc xảy ra, Bàn Phụ C và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình La Thị C1 số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và được đại diện gia đình C1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Xét thấy việc trả lại đồ vật, tài sản không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/02/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 cho chủ sở hữu là Bàn Kiềm O (bố của Bàn Phụ C; sinh ngày 14/12/1986; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng) và các đồ vật, tài sản không liên quan cho Bàn Phụ C.
Hành vi trên đây của Bàn Phụ C đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSTP ngày 14/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Bàn Phụ C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí nguyên nhân gây ra cái chết của bị hại là do bị cáo điều khiển xe đi không đi đúng phần đường, làn đường và không có giấy phép lái xe nên độ đã xảy ra tại nạn giao thông. Bị cáo cho biết sau khi xảy ra tai nạn đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng, trong đó bị cáo góp được số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo xác nhận đã nhận lại đồ vật, tài sản bị thu giữ và không có ý kiến gì thêm.
Ông La Văn K vắng mặt tại phiên toà nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn ông xác nhận gia đình bị hại đã được gia đình bị cáo bồi thường số tiền 20.000.0000 đồng (hai mươi triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ông Bàn Kiềm O cho biết chiếc mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 là của ông, khi bị cáo lấy xe đi ông không biết, nay chiếc xe đã được cơ quan công an trả lại cho ông. Đối với số tiền 20.000.000 đồng bồi thường cho gia đình bị hại là tiền của ông, ông không có ý kiến gì về chiếc xe cũng như số tiền ông đã bỏ ra để bồi thường cho gia đình bị hại.
Người có quyền lợi liên quan Trần Thị B2 và Chu Thị P vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có ý kiến xin vắng mặt và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP đối với bị cáo Bàn Phụ C, tuyên bố bị cáo Bàn Phụ C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị xử phạt bị cáo Bàn P3 Cán 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi liên quan không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế, đo dó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo với mức khởi điểm của khung hình phạt.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định:
Khoảng 21 giờ ngày 30/9/2023, Bàn Phụ C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1 – 141.39 chở La Thị C1 đi từ phố đi bộ K1, thành phố C qua đường V về hướng huyện N, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến Km245 + 800 Quốc lộ C thuộc xóm N, xã H, thành phố C, C điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, làn đường nên đã đâm vào thềm dốc cổng nhà Trần Triệu B1. Sau va chạm, La Thị C1 bị ngã văng ra cạnh đường và sau đó đã tử vong. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, Bàn Phụ C không có giấy phép lái xe theo quy định.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Bị cáo có trình độ học vấn lớp 11/12 PT, là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tình tiết định khung:
Bị cáo Bàn Phụ Cán không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô đi không đúng phần đường, làn đường của mình, dẫn đến tai nạn giao thông, hậu quả làm La Thị C1 tử vong. Hành vi của bị cáo C thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã cùng với gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 20.000.000 đồng và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về hình phạt:
Xét thấy lỗi của bị cáo là lỗi vô ý, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo theo quy định tại Điều 65, Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Ngoài ra theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên xét thấy bị cáo là học sinh nên không xem xét áp dụng.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã được bồi thường số tiền 20.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng chuyển theo vụ án:
Xét thấy việc trả lại đồ vật, tài sản không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/02/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 cho chủ sở hữu là Bàn Kiềm O (bố của Bàn Phụ C; sinh ngày 14/12/1986; Trú tại: Xóm N, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng) và các đồ vật, tài sản không liên quan cho Bàn Phụ C là đúng pháp luật.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với Bàn Kiềm O, quá trình điều tra xác định O không biết việc Bàn Phụ C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 11U1 - 141.39 của O để đi đến thành phố C và
gây ra tai nạn. Do vậy, cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý hành vi của O.
[10] Về án phí: bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bàn Phụ C.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố: bị cáo Bàn Phụ C phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Xử phạt: Bị cáo Bàn Phụ Cán 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/5/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân X, xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo được miễn số tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan ông Bàn Kiềm O được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bàn Phụ C - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
