|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2023/DS-ST
Ngày: 27/12/2023
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
(ranh đất)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
2. Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên
tòa: Ông Lê Thanh Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít,
tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2022/TLST-DS
ngày 21 tháng 3 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)”, theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2023/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 12
năm 2023 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Ô, sinh năm 1953 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
Bị đơn: Bà Phạm Thị Cẩm K, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thành K1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Vân L, sinh năm 1990 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ, anh Nguyễn Thành
K1, chị Nguyễn Thị Vân L: Ông Nguyễn Văn Ô, sinh năm 1953 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
-
- (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/4/2022)
-
Ông Phạm Văn T, sinh năm 1950
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T: Bà Phạm Thị Cẩm
K, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
(Theo giấy hợp đồng ủy quyền ngày 30/8/2022).
-
Ông Lê Phú V, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Phú V: Bà Phạm Thị Cẩm K,
sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
(Theo giấy hợp đồng ủy quyền ngày 26/12/2023).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2022 của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô,
các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm
nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô, đồng thời ông Nguyễn Văn Ô là người đại diện
theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ, ông Nguyễn Thành K1, bà Nguyễn Thị Vân L
trình bày:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 94,
tờ bản đồ số 36, diện tích 1.695,9m², mục đích sử dụng: Đất ở 300m², đất trồng
cây lâu năm 1.395,9m²; tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông
Nguyễn Văn Ô đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 938820, số vào sổ cấp GCN: CH03609,
do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 31/12/2014.
Nguồn gốc thửa đất 94 do vào năm 1994 ông Ô nhận chuyển nhượng từ
ông Đặng Văn Đ1.
Thửa đất số 94 của ông Ô giáp thửa đất số 58 (theo Vlap là thửa 334), tờ
bản đồ số 8 (theo Vlap tờ bản đồ 21), diện tích 1.530m², loại đất: CDK, đất tọa
lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long bà Phạm Thị Cẩm K và ông Lê Phú
V đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/12/2014.
Nguồn gốc thửa đất 58 là do ông Phạm Văn T tặng cho bà K và ông V.
Trước khi ông Tri tặng cho thì thửa đất này do ông T trực tiếp sử dụng, phần đất
ông Ô đang tranh chấp là một cái mương, sau đó ông Ô mới sang lấp cái mương
này, phần đất này là thuộc thửa đất 94 của ông Ô, lúc ông Ô sang lắp cái mương
này xong thì ông T vẫn đang sử dụng thửa đất 58. Đến sau này, ông T mới tặng
thửa 58 cho bà K và ông V.
Trong quá trình sử dụng đất khoảng đầu năm 2021 bà K và ông V đổ trụ
bê tông và xây dựng hàng rào lấn qua thửa đất 94 của ông Ô với tổng diện tích
theo đo đạc thực tế là 94,6 m², khi bà K và ông V xây dựng ông Ô chỉ ngăn cản
bằng lời nói không có báo chính quyền địa phương.
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề sau đây:
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan gồm ông Phạm Văn T; ông Lê Phú V phải tháo dỡ di dời hàng rào khung
móng trụ bê tông, cốt thép, tường gạch đã xây dựng để trả lại cho ông Ô tổng
diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 94,6 m² thuộc thửa đất số 94, tờ
bản đồ số 36, diện tích 1.695,9m², mục đích sử dụng: Đất ở 300m², đất trồng cây
lâu năm 1.395,9m²; tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông
Nguyễn Văn Ô đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Nguyên đơn không hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời, cũng như bồi thường giá
trị hàng rào.
Nguyên đơn không thống nhất với kết quả đo đạc, tuy nhiên nguyên đơn
không yêu cầu đo đạc lại. Nguyên đơn thống nhất kết quả định giá tài sản của
Hội đồng định giá. Nguyên đơn thống nhất giá trị thửa đất 94 loại đất ONT có
giá là 230.000 đồng/m², giá đất trồng cây lâu năm có giá là 111.000 đồng/m²;
giá trị thửa đất 58 (thửa mới 334) có giá là 173.000 đồng/m² để làm căn cứ giải
quyết vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn
bà Phạm Thị Cẩm K trình bày:
Bà K và ông V là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 58 (theo Vlap là thửa
334), tờ bản đồ số 8 (theo Vlap là tờ bản đồ 21), diện tích 1.530m², loại đất:
CDK, đất tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do bà Phạm Thị Cẩm
K và ông Lê Phú V đứng tên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày
19/12/2014.
Nguồn gốc thửa đất trên do ông Phạm Văn T tặng cho bà K và ông V vào
năm 2014. Thửa đất số 58 có giáp ranh với thửa đất 94 của ông Ô.
Hàng rào tường trên diện tích đất tranh chấp trước đây là do ông T xây
dựng vào năm 1996, sau khi được ông Tri tặng cho đất thì bà K và ông V đập
cột bỏ, chừa lại chân tường và xây dựng thêm kiên cố vào năm 2020, khi xây
dựng hàng rào tường kiên cố ông Ô không có ngăn cản. Thửa đất 58 hiện nay do
bà K và ông V quản lý, sử dụng; ông T không có sử dụng thửa đất này.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà K không đồng ý, phần đất tranh
chấp tổng diện tích theo đo đạc thực tế là 94,6 m² là thuộc thửa đất số 58 của bà
K và ông V.
Bà K thống nhất với kết quả đo đạc. Bà K thống nhất kết quả định giá tài
sản của Hội đồng định giá. Bà K thống nhất giá trị thửa đất 94 loại đất ONT có
giá là 230.000 đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm có giá là 111.000 đồng/m²;
giá trị thửa đất 58 (thửa mới 334) có giá là 173.000 đồng/m² để làm căn cứ giải
quyết vụ án.
Với tư cách bà K là người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T,
ông Lê Phú V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Vân L trình bày: Bà L thống
nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn Ô, không có yêu cầu độc lập trong
vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng theo quy định của pháp
luật. Việc chấp hành của những người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự từ
khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự đã thực hiện đúng các quy
định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện
Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô.
-
+ Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Phú V có trách nhiệm liên đới hoàn trả giá trị đất cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn Ô số tiền là 1.221.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi mốt
nghìn đồng).
-
+ Công nhận cho bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông Lê Phú V được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất
tranh chấp có diện tích là 2,8 m² (gồm các mốc 2, C, B, 2) và 8,2 m² (gồm các
mốc B, C, E, 4, B) thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 36, mục đích sử dụng: Đất
trồng cây lâu năm, tọa lạc ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn
Văn Ô đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
-
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Ô, về
việc yêu cầu bà Phạm Thị Cẩm K, ông Phạm Văn T, ông Lê Phú V phải trả lại
cho ông Ô diện tích đất là 37,8m² (gồm các mốc 2, 3, D, C, 2) và 45,8m² (gồm
các mốc C, D, E, C).
-
+ Về chi phí tố tụng: Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô phải chịu là
2.583.500 đồng (Hai triệu năm trăm tám mươi ba nghìn năm trăm đồng), ông Ô
đã nộp xong. Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Lê Phú V phải liên đới nộp số tiền là 2.583.500 đồng (Hai triệu
năm trăm tám mươi ba nghìn năm trăm đồng) để hoàn trả lại cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn Ô.
-
+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông
Nguyễn Văn Ô. Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Phú V phải liên đới nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.2] Quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp
huyện theo quy định tại khoản 9 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại xã A,
huyện M, tỉnh Vĩnh Long do đó Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý, giải
quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô không thống nhất với kết quả đo
đạc, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu ông Ô cung cấp đơn yêu cầu đo đạc lại nhưng
ông Ô không cung cấp. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít căn cứ vào kết
quả đo đạc đã thu thập được làm căn cứ để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô: Yêu cầu
bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm ông
Phạm Văn T; ông Lê Phú V phải tháo dỡ di dời hàng rào khung móng trụ bê
tông, cốt thép, tường gạch đã xây dựng để trả lại cho ông Ô tổng diện tích đất
lấn chiếm theo đo đạc thực tế là 94,6 m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 36,
diện tích 1.695,9m²; tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông
Nguyễn Văn Ô đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất.
[2.2] Xét thấy, tại Công văn số 962/PTNMT, ngày 09/12/2022, về việc trả
lời công văn của Tòa án nhân huyện M và tại Trích đo bản đồ địa chính khu đất
phục vụ công tác xét xử của Tòa án của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện
M lập ngày 09/12/2022 cung cấp thể hiện:
-
- Thửa đất số 94, tờ bản đồ số 36, diện tích 1.695,9m², mục đích sử dụng:
đất ở tại nông thôn và đất trồng cây lâu năm, do ông Nguyễn Văn Ô đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất tọa lạc tại ấp T, xã A, huyện M, tỉnh
Vĩnh Long.
-
- Khảo sát hiện trạng diện tích 1.592,8m². Trong đó có:
-
+ Có 2,8 m² gồm các mốc 2, C, B, 2 đang tranh chấp ranh với bị đơn.
Phần đất tranh chấp thuộc thửa 94, tờ bản đồ số 36 do ông Nguyễn Văn Ô đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
-
+ Có 8,2 m² gồm các mốc B, C, E, 4, B đang tranh chấp ranh với bị đơn.
Phần đất tranh chấp thuộc thửa 94, tờ bản đồ số 36 do ông Nguyễn Văn Ô đứng
tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
-
+ Có 37,8m² gồm các mốc 2, 3, D, C, 2 đang tranh chấp ranh với bị đơn.
Phần đất tranh chấp thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 8 (nay là thửa 334, tờ 21 theo
Vlap) do Phạm Thị Cẩm K và Lê Phú V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
-
+ Có 45,8 m² gồm các mốc C, D, E, C đang tranh chấp ranh với bị đơn.
Phần đất tranh chấp thuộc thửa 58, tờ bản đồ số 8 (nay là thửa 334, tờ 21 theo
Vlap) do Phạm Thị Cẩm K và Lê Phú V đứng tên giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Diện tích đo đạc hiện trạng thửa 94 giảm 103,1m² so với giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Nguyên nhân do nguyên đơn xác định không đúng ranh so
với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
[2.3] Tại Công văn số 591/UBND-NC, ngày 05/5/2023 của Ủy ban nhân
dân huyện M phúc đáp cho Tòa án nhân dân huyện Mang Thít có nội dung: Việc
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Ô đối với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành tổng cục CA 938820, số vào sổ
CH03609, cấp ngày 31/12/2014 được thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy
định. Việc tặng cho quyền sử dụng đất từ ông Phạm Văn T sang cho bà Phạm
Thị Cẩm K và ông Lê Phú V đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số
phát hành tổng cục T1 637302, số vào số 42128, cấp ngày 12/11/2004 được thực
hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
[2.4] Từ những căn cứ trên, có đủ sơ sở xác định phần đất tranh chấp có
diện tích 2,8m² và 8,2m² là thuộc thửa đất 94 của ông Ô đứng tên; có 37,8m² và
45,8m² là thuộc thửa 58 (thửa mới 334) của bà K và ông V đứng tên. Do đó, yêu
cầu của ông Ô là có căn cứ chấp nhận một phần. Tuy nhiên, trong quá trình Tòa
án thu thập chứng cứ bằng biện pháp xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng trên
phần đất tranh chấp giữa thửa 94 và thửa 58 (thửa mới 334) là hàng rào khung
móng trụ bê tông, cốt thép, tường gạch có gắn liền mái che khung thép hộp, mái
tol đã được ông V và bà K xây dựng kiên cố, như vậy nếu tháo dỡ hàng rào thì
thiệt hại sẽ lớn hơn, hơn nữa khi ông V và bà K xây dựng hàng rào kiên cố thì
ông Ô biết nhưng không ngăn cản hoặc nhờ chính quyền địa phương can thiệp.
Do đó, cần xem xét buộc bà K và ông V hoàn trả giá trị đất là phù hợp.
[2.5] Nguyên đơn và bị đơn thống nhất giá trị thửa đất 94 loại đất ONT có
giá là 230.000 đồng/m2, giá đất trồng cây lâu năm có giá là 111.000 đồng/m2;
giá trị thửa đất 58 (thửa mới 334) có giá là 173.000 đồng/m² để làm căn cứ giải
quyết vụ án. Như vậy, buộc bà K và ông V có trách nhiệm liên đới hoàn trả giá
trị đất cho ông Ô là: (2,8m² + 8,2m²) x 111.000 đồng/m² = 1.221.000 đồng (Một
triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Giao phần đất có diện tích 2,8m² (gồm
các mốc 2, C, B, 2) và 8,2m² (gồm các mốc B, C, E, 4, B) cho bà K và ông V
quản lý sử dụng theo quy định pháp luật.
[2.6] Đối với yêu cầu của ông Ô, yêu cầu ông Phạm Văn T phải trả lại cho
ông Ô diện tích đất lấn chiếm là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ ông T không
còn là chủ sử dụng thửa đất 58 (thửa mới 334), hàng rào và thửa đất 58 (thửa
mới 334) là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông V và bà K.
[2.7] Không chấp yêu cầu của ông Ô, về việc yêu cầu bà K, ông V, ông T
trả lại đất lấn chiếm có diện tích là có 37,8m² (gồm các mốc 2, 3, D, C, 2) và
45,8m² (gồm các mốc C, D, E, C).
[3] Xét, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có căn
cứ, phù hợp với nhận định trên, nên chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng là 5.167.000 đồng (Năm triệu một trăm sáu mươi
bảy nghìn đồng), do chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
nên buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô phải chịu là 2.583.500 đồng, bị đơn bà
Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Phú V phải
liên đới chịu là 2.583.500 đồng. Ông Ô đã nộp xong không phải nộp thêm, buộc
bà Phạm Thị Cẩm K và ông Lê Phú V phải liên đới hoàn trả cho ông Nguyễn
Văn Ô số tiền là 2.583.500 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
-
- Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Phú V phải liên đới nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
-
- Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Ô đối với yêu cầu
không được chấp nhận, do ông Nguyễn Văn Ô có đơn xin miễn tiền án phí với
lý do là người cao tuổi theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi, Điều 147
của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và Điều
26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1
Điều 39; các Điều 147; 157; 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
Căn cứ các Điều 158, 159, 163, 164, 175, 176 của Bộ luật Dân sự năm
2015;
Căn cứ các Điều 166, 170, 203 của Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn
Văn Ô.
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Phú V có trách nhiệm liên đới hoàn trả giá trị đất cho nguyên đơn
ông Nguyễn Văn Ô số tiền là 1.221.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi mốt
nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Công nhận cho bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan ông Lê Phú V được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tranh
chấp có diện tích là 2,8 m² (gồm các mốc 2, C, B, 2) và 8,2 m² (gồm các mốc B,
C, E, 4, B) thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 36, mục đích sử dụng: Đất trồng
cây lâu năm, tọa lạc ấp T, xã A, huyện M, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Văn
Ô đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để
kê khai, đăng ký, chỉnh lý biến động phần đất theo quy định pháp luật về đất đai.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn Ô, về
việc yêu cầu bà Phạm Thị Cẩm K, ông Phạm Văn T, ông Lê Phú V phải trả lại
cho ông Ô diện tích đất là 37,8m² (gồm các mốc 2, 3, D, C, 2) và 45,8m² (gồm
các mốc C, D, E, C).
(Kèm theo Trích đo bản đồ địa chính khu đất phục vụ cho công tác xét xử
của Tòa án do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện M lập ngày 09/12/2022).
3. Về chi phí tố tụng:
-
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ô phải chịu là 2.583.500 đồng (Hai
triệu năm trăm tám mươi ba nghìn năm trăm đồng), ông Ô đã nộp xong, không
phải nộp thêm.
-
- Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Phú V phải liên đới nộp số tiền là 2.583.500 đồng (Hai triệu năm
trăm tám mươi ba nghìn năm trăm đồng) để hoàn trả lại cho nguyên đơn ông
Nguyễn Văn Ô.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
-
- Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Ô.
-
- Buộc bị đơn bà Phạm Thị Cẩm K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Lê Phú V phải liên đới nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa
đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười
lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có
mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười
lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 87/2023/DS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
- Số bản án: 87/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ranh đất
