Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Tâm và ông Lê Thanh Hảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Hoàng Q, sinh ngày 15/02/1991, nơi sinh: C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ học vân: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng S và bà Lê Thị L, bị cáo là con duy nhất, bị cáo có vợ là Hồng Ngọc C (ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thành T, Luật sư của Công ty L1 tại Cần Thơ thuộc Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).

Bị hại: Trần Văn Phương E, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Tổ H, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt)

Người làm chứng: Lê Thị L, sinh năm 1958 (có mặt); Trần Hoàng S, sinh năm 1960 (có mặt); Phan Thị T1, sinh năm 1980 (có mặt); Phan Thị T2, sinh năm 1978 (có mặt); Ngô Minh T3, sinh năm 1984 (vắng mặt); Lâm Chiêu K, sinh năm 1993 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước, khoảng 10 giờ ngày 29/11/2023, Trần Văn P Em trên đường đi làm thuê về thì gặp Trần Hoàng Q đang cất cỏ ở cánh đồng thuộc khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cả hai có lời lẽ khiêu khích, thách thức đánh nhau. Sau đó, Phương E điều khiển xe môtô về nhà lấy cây gậy ba khúc bằng kim loại, dài khoảng 50 cm rồi đi đến khu vực nuôi bò của gia đình Q để tìm Q đánh nhau. Thấy Phương E cầm hung khí đi đến bà Lê Thị L (mẹ Q) la lên, nghe vậy Q từ trong chuồng bò chạy ra, Phương E cầm gậy ba khúc đi đến đứng đối diện đánh từ trên xuống vào người Q, Q đưa tay lên đỡ nên trúng vào cẳng tay trái Q. Lúc này, Q lấy cây dao để trên kệ gỗ phía trước chuồng bò đánh nhau với Phương E. Trong lúc đánh nhau, Phương E cầm gậy 03 khúc đánh trúng bàn tay trái và vai phải Q, Q cầm dao chém 02 cái vào cẳng tay trái và 01 cái vào cẳng tay phải Phương E thì được mọi người gần đó can ngăn ra và đưa P Em đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh tại thành phố C để điều trị thương tích đến ngày 08/12/2023 xuất viện. Ngày 04/12/2023, Phương E có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Q về hành vi gây thương tích cho Phương E.

Căn cứ Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 45/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận kết luận thương tích như sau: Trần Văn P Em tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên là 24% (do vật sắc nhọn gây nên).

Cáo trạng số 72/CT-VKSCĐ-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Trần Hoàng Q về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134, Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Chủ tọa công bố Bản Kết luận giám định số 45/24/KLTTCT-TTPY ngày 28/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A.

Người bào chữa cho bị cáo, Luật sư Nguyễn Thành T trình bày: Thống nhất với luận tội của Viện kiểm sát. Từ giai đoạn điều tra bị cáo luôn thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, khắc phục xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Bản thân bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương, hoàn cảnh gia đình khó khăn, lao động duy nhất trong gia đình phải mưu sinh để nuôi con đi học, chăm sóc cha mẹ già, cha bị cáo là người có công với cách mạng; bị hại rút yêu cầu khởi tố và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối chiếu quy định pháp luật thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Kính mong Hội đồng xét xử có sự xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; không có ý kiến tranh luận, chấp nhận toàn bộ yêu cầu bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền là 59.000.000 đồng, bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng ở Cơ quan thi hành án để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa đã giao đủ số tiền 49.000.000

3

đồng cho bị hại để điều trị vết thương và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Trần Văn P Em có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền thiệt hại là 59.000.000 đồng, đã nhận số tiền 49.000.000 đồng và có yêu cầu được nhận số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp trong giai đoạn điều tra; xin rút lại yêu cầu khởi tố vụ án và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình bị cáo đáng thương, lao động duy nhất trong gia đình, cha mẹ già có nhiều bệnh, phải nuôi con nhỏ.

Người làm chứng ông Trần Hoàng S, bà Lê Thị L là cha mẹ của bị cáo trình bày: bị cáo và bị hại là láng giềng với nhau, sự việc xảy ra không ai mong muốn nhưng bị hại bị tổn thương sức khỏe là thật nên trách nhiệm làm cha mẹ phải lo tiền bù đắp sai lầm của con cái. Ông S, bà L lớn tuổi, sức khỏe rất yếu đi lại khó khăn mọi sinh hoạt trong cuộc sống để do Q chăm sóc. Hơn nữa, Q cũng có đứa con còn nhỏ mà đã ly hôn với vợ; một mình Q phải chăm lo cha mẹ già, con nhỏ; để có tiền bồi thường cho bị hại, ông S phải đi vay tiền. Kính mong Hội đồng xét xử cho Q được hưởng án treo để có thể chăm sóc cha mẹ già, con nhỏ và phải lo trả nợ vì số tiền vay mượn quá lớn.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoàng Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường số tiền theo yêu cầu bị hại và việc giao nhận tiền đã thực hiện xong; đề nghị Hội đồng xét xử giao số tiền 10.000.000 bị cáo giao nộp cơ quan thi hành án cho bị hại nhận. Áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 cây dao bằng kim loại, các đồ vật có liên quan khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa người làm chứng ông T3, ông K vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

4

[2] Về nội dung:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng; Kết luận giám định thương tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan.

Từ đó, có căn cứ xác định, bị cáo Q đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể 24%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với tiền 59.000.000 đồng như theo yêu cầu bị hại, đã giao nộp 10.000.000 đồng tại cơ quan thành hành án và tại phiên tòa đã giao cho bị hại số tiền còn lại 49.000.000 đồng; trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bên cạnh đó, bị cáo còn có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; bị cáo có học lực thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, cha bị cáo là ông Trần Hoàng S từng tham gia cách mạng, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải chăm lo cho cha mẹ già bệnh tật và nuôi con còn nhỏ. Bên cạnh đó, sự việc xảy ra do một phần lỗi của bị hại; bị hại xin rút lại yêu cầu khởi tố đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ Luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và mang ý nghĩa tuyên truyền, giáo dục cho người phạm tội biết thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả thì sẽ được sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thời gian tự cải tạo, sửa đổi bản thân, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn P Em yêu cầu bồi thường với tổng số tiền 59.000.000 đồng. Bị cáo chấp nhận bồi thường toàn bộ số tiền mà bị

5

hại yêu cầu và tại phiên tòa bị cáo đã giao đủ số tiền cho bị hại là 49.000.0000 đồng; còn số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo giao nộp tại cơ quan thi hành án sẽ giao cho bị hại Trần Văn P Em nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao bằng kim loại, màu đen, dài 55 cm, cán bằng kim loại rồng, tròn, hàn liền lưỡi dao, dài 14 cm, đường kính 2,5 cm, lưỡi dao dài 41 cm, nơi rộng nhất 6,5 cm, nơi hẹp nhất 3,3 cm, sắc bén một cạnh, mũi dao bằng và các đồ vật có liên quan. Đây là vật chứng dùng vào mục đích phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng Q phạm tội "Cố ý gây thương tích";

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo: Xử phạt bị cáo Trần Hoàng Q 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, được tính kể từ ngày tuyên án 27/8/2024.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015: Giao cho bị hại Trần Văn P Em số tiền 10.000.000 (mười triệu ) đồng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024 (VNC số 153/Năm NS 2024 ngày 07/8/2024).

Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây dao bằng kim loại, màu đen, dài 55 cm, cán bằng kim loại rỗng, tròn, hàn liền lưỡi dao, dài 14 cm, đường kính 2,5 cm, lưỡi dao dài 41 cm, nơi rộng nhất 6,5 cm, nơi hẹp nhất 3,3 cm, sắc bén một cạnh, mũi dao bằng; 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu xanh đã qua sử dụng; 01 cái quần thun dài màu xanh, viền màu

6

trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo sơ mi tay dài, màu xám, có chữ New Ces, trên vai áo bên trái có một vết rách dài 02cm, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Hoàng Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Nhà Tạm giữ TP. Châu Đốc;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án,
  • - Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội.....
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger