Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Sao

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tráng A Sủ
  2. Ông Khoàng Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phùng Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Nhà T; sinh ngày 09 tháng 12 năm 1966 tại huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái; Nơi thường trú: Bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Số căn cước công dân [...]xxx, cấp ngày 17/12/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an; Con ông Giàng Là S (đã chết) và bà Tráng Thị S1; Bị cáo có vợ là Tráng Thị M và 03 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/02/2020 bị Trưởng Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền 1.200.000 đồng, bị cáo nộp phạt vào ngày 06/3/2020. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/6/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 19/6/2024 cho tới nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1994 là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 25 phút ngày 10/6/2024, tổ công tác Công an xã V đang làm nhiệm vụ tại bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên, phát hiện tại nhà Giàng Nhà T có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã tiến hành kiểm tra. Khi tổ công tác vào nhà, Giàng Nhà T đang ngồi cạnh bếp. Sau khi nghe tổ công tác giải thích, Giàng Nhà T đã tự giác lấy dưới gối trên giường ngủ của T ra 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có nẹp nhựa mở bên trong có các viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên có chữ WY giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, đưa T cùng vật chứng về trụ sở Công an xã V, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ và niêm phong vật chứng.

Quá trình điều tra Giàng Nhà T khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, Giàng Nhà T đi bộ trên đường ở bản H, xã V thì gặp 01 người đàn ông không quen biết có ma túy bán. Qua trao đổi, T đã mua 01 túi ma túy tổng hợp của ông ta với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được túi ma túy, T mang về nhà cất giấu dưới gối trên đầu giường ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 10/6/2024 T lấy 02 viên ma túy tổng hợp ra sử dụng, sau đó lại tiếp tục cất giấu túi ma túy dưới gối trên đầu giường ngủ. Đến 16 giờ 25 phút ngày 10/6/2024, T đang ở nhà thì tổ công tác vào kiểm tra, phát hiện thu giữ gói ma túy nói trên.

Tại Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 11/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định: Các viên nén màu hồng thu giữ của Giàng Nhà T có tổng khối lượng 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam, gửi toàn bộ làm mẫu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 1003/KL-KTHS, ngày 16/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

“- Vật chứng thu giữ của Giàng Nhà T có khối lượng 4,93 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine”.

Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKSNP ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Giàng Nhà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Nhà T một lần nữa thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Giàng Nhà T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Giàng Nhà T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2

Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là Methamphetamine sau khi hoàn lại mẫu giám định và 01 túi nilon. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Giàng Nhà T nhất trí với luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nhân thân, hoàn cảnh, xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Giàng Nhà T nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Nhà T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào hồi 16 giờ 25 phút, ngày 10/6/2024, tại nhà bị cáo Giàng Nhà T ở bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên, bị cáo T đã tàng trữ trái phép 4,93 (bốn phẩy chín mươi ba) gam Methamphetamine, được T cất giấu dưới gối trên đầu giường ngủ. Mục đích bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra (BL 63-67, 70-73), phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ (BL 01-02), kết luận giám định (BL 49) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng Nhà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[2] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn huyện N, vì ma túy

không chỉ gây hủy hoại sức khỏe của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

[3] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Năm 2020 bị cáo Giàng Nhà T bị Trưởng Công an huyện N, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07/QĐ-XPVPHC bằng hình thức phạt tiền 1.200.000 đồng, bị cáo nộp phạt vào ngày 06/3/2020, đến thời điểm phạm tội được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Khi bị bắt giữ và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xét thấy, cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, để bị cáo cải tạo bản thân và làm gương răn đe, giáo dục trong Nhân dân. Để đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nông nghiệp, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc diện hộ nghèo, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Vật chứng là 3,93 (ba phẩy chín mươi ba) gam Methamphetamine hoàn lại sau khi giám định và 01 túi nilon màu xanh, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tịch thu tiêu hủy.

[6] Xét đề nghị của người bào chữa:

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung Cáo trạng cũng như luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo vì hành vi phạm tội của bị cáo là rõ ràng. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nhân thân và hoàn cảnh, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức đề nghị thấp nhất của vị đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị của người bào chữa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên và người bào chữa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Trong vụ án Giàng Nhà T khai đã mua Methamphetamine của 01 người đàn ông không quen biết vào ngày 09/6/2024 tại bản H, xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ của người đàn ông này ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, xét thấy bị cáo là dân tộc thiểu số (dân tộc Mông) sống tại xã V, huyện N, tỉnh Điện Biên là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[10] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Nhà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Nhà T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/6/2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 3,93 (ba phẩy chín mươi ba) gam Heroine hoàn lại sau khi đã giám định và 01 túi nilon màu xanh.

    (Vật chứng được đựng trong phong bì niêm phong như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Nhà T.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Giàng Nhà T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 26/9/2024./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện N;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Phòng KTNV&THA – TAND tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện N;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện N;
  • - Cơ quan THAHS CA N;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện N
  • - Chi cục THADS huyện N;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Lưu HS: VA, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Sao

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Giàng Nhà T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger