|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HS-ST
Ngày: 26-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Tô Tấn Chương
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Trương Nhật Q, sinh ngày 16 tháng 3 năm 2000 tại: An Giang; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: B Quốc lộ A, tổ A, khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu P; con bà: Trương Thị Thu H; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Huỳnh Thanh K, sinh ngày 10 tháng 9 năm 2001 tại: An Giang; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: B Quốc lộ A, tổ A, khu phố C, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Huỳnh Thanh B; con bà: Nguyễn Thị T; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
-
Nguyễn Văn K1, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2001 tại: Bạc Liêu; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu; Chỗ ở: Phòng trọ 106, nhà số C, khu phố E, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1; con bà: Ngô Thị N; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1/ Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1965; Nơi cư trú: 6E/3 Tổ D, ấp B, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- 2/ Ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 1 L, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/1/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Q1 đang tuần tra đến trước số A giao lộ H - N, Phường I, Quận E phát hiện Huỳnh Thanh K đang điều khiển xe môtô biển số: 71H8- 7528 chở Trương Nhật Q có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, K và Q đều không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Tổ công tác đã đưa K, Q cùng phương tiện về trụ sở Công an P1, Quận E để làm việc. Tại trụ sở Công an P1, Quận E tiếp tục kiểm tra phát hiện và thu giữ trong lai quần vải ngắn bên trái của Trương Nhật Q đang mặc phát hiện 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Q khai nhận số tinh thể không màu trên là ma tuý do Q, K và Nguyễn Văn K1 cùng góp tiền, mua để sử dụng chung do đó Tổ công tác bàn giao K, Q cùng vật chứng cho Công an P1, Quận E lập biên bản phạm tội quả tang, sau đó chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 để điều tra theo thẩm quyền.
Tiến hành điều tra mở rộng, truy xét và mời Nguyễn Văn K1 làm việc. Tại cơ quan điều tra, K1 khai nhận cùng góp tiền để Q và K đi mua ma tuý để cả ba cùng chia nhau sử dụng, sau đó K1 bị bắt giữ.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trương Nhật Q và Huỳnh Thanh K khai nhận: Q và K là bạn bè quen biết nhau từ nhỏ do có nhà ở gần nhau tại tỉnh An Giang. Tháng 11/2023, Q và K cùng thuê nhà trọ B471 Quốc lộ A, tổ A, khu phố C, phường Đ, Quận A để ở và cùng làm nghề công nhân xây dựng Công trình xây dựng thuộc Quận A với K1. Qua nói chuyện, Q biết K, K1 có sử dụng ma tuý. Do đó, vào khoảng 17 giờ ngày 06/1/2024, Q rủ K cùng góp tiền cùng đi mua ma túy để sử dụng, K đồng ý. Q và K thống nhất mua 500.000 đồng ma túy đá, trong đó Q góp 400.000 đồng còn K góp 100.000 đồng nhưng do Q không có tiền nên mượn K 400.000 đồng, K đồng ý cho Q mượn. Do không có tiền mặt, K chuyển khoản cho Q 500.000 đồng để đi mua ma túy, đồng thời Q liên lạc với K1 thông báo sẽ đi mua ma tuý, nếu K1 muốn mua ma túy thì chuyển khoản cho Q, K1 đồng ý và sử dụng số tài khoản ngân hàng A số 23319437 mang tên "NGUYEN VAN KHOI" chuyển khoản cho Q qua tài khoản ngân hàng M số 0367863421 mang tên "TRUONG NHAT QUANG" của Q tổng cộng 900.000 đồng (lần 1: 500.000 đồng; lần 2: 400.000 đồng) để hùn vào cùng Q, K mua "25 số" ma túy đá với giá 1.400.000 đồng. Cả 3 cùng thống nhất sau khi mua ma túy về thì sẽ chia nhau sử dụng. Sau khi nhận được tiền của K và K1, Q liên lạc với một người thanh niên không rõ lai lịch theo số 0932678674 và hỏi mua 1.400.000 đồng ma túy đá với số lượng 25 số, người thanh niên đồng ý và hẹn qua khu vực đường C, Quận H để giao ma túy. Khoảng 18 giờ cùng ngày do Q và K đã mượn xe máy biển số 71H8 - 7528 của Nguyễn Văn T2 ở cùng dãy trọ đi từ nơi ở đến đường C, Quận H để mua ma tuý. Tại đây, Sau khi thanh toán tiền, Q cất giấu gói ma túy trên vào trong ống quần trái đang mặc và điều khiển xe quay trở lại nhà ở thuộc Quận A. Khoảng 20 giờ 30 ngày 06/01/2024, khi cả hai đến trước số A Giao lộ H - N, Phường I, Quận E thì bị Tổ tuần tra 363 - Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện, thu giữ số ma túy trên.
Nguyễn Văn K1 khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 ngày 06/01/2024, Quang điện t nói K1 chuẩn bị đi mua ma túy để sử dụng nếu K1 có mua thì chuyển tiền cho Q để cùng hùn với Q, K mua “25 số” ma túy với giá 1.400.000 đồng. K1 đồng ý và sau đó K1 chuyển tiền cho Q với số tiền 900.000 đồng và nói nếu mua về thì K1 sẽ lấy 6/10 phần ma túy và sử dụng riêng. Sau đó Q gọi điện thoại xác nhận đã nhận được tiền từ Khôi. Do thấy Q đi lâu nhưng không thấy trở về đưa ma túy cho K1 nên K1 đã gọi nhiều cuộc điện thoại hối thúc Q nhưng không liên lạc được. Đến khoảng 20 giờ ngày 07/1/2024, K1 được Công an Q1 mời về làm việc, và sau đó bắt giữ.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3675g (hai phẩy ba sáu bảy năm gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 370/24-Q5, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phòng K3 và cán bộ Công an Q1); 01 (một) xe mô tô, có số khung: VHTDCG0H4UM000214, số máy: RPTDS152FMH00042625; 01 (một) biển số 71H8-7528; 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, I: 864087062333341/78; 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung, Imei: 354551898354315/01; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350777738960748; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt gas.
Tại bản Kết luận giám định số 953/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K3 Công an Thành phố H kết luận như sau: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3675g (hai phẩy ba sáu bảy năm gam), loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 85/CT-VKSQ5 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và Nguyễn Văn K1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và Nguyễn Văn K1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trương Nhật Q, Huỳnh Anh K2 với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn K1 với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và đều nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và Nguyễn Văn K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và Nguyễn Văn K1 đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 2,3675g (hai phẩy ba sáu bảy năm gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do các bị cáo đều là người nghiện ma túy nên cùng nhau hùn tiền mua ma túy về rồi chia nhau sử dụng, quá trình điều tra các bị cáo khai hùn tiền mua “25 số” ma túy về chia nhau sử dụng và bị cáo K1 lấy 6/10 phần ma túy, còn lại là của Q và K. Tuy nhiên tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận là hùn mua ma túy về chia nhau sử dụng và tự ai lấy bao nhiêu thì lấy, như vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung với khối lượng ma túy mà các bị cáo tàng trữ để sử dụng không thể phân chia tách rời được. Xét đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong vụ án này bị cáo Q là người rủ rê, khởi xướng và là người trực tiếp đi mua ma túy và hùn 100.000 đồng, bị cáo K hùn tiền 400.000 đồng và cùng với Q đi mua ma túy, bị cáo K1 hùn tiền 900.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại; gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo; nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, bên cạnh đó có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ Điều 50; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để các bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích hưởng lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Q, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có bắt được sẽ xem xét xử lý sau.
[9] Về xử lý vật chứng:
01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3675g (hai phẩy ba sáu bảy năm gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 370/24-Q5, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phòng K3 và cán bộ Công an Q1); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt gas. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nữa nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.
Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, I: 864087062333341/78; 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung, Imei: 354551898354315/01; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350777738960748 là tài sản cá nhân của các bị cáo Q, K, K1, sử dụng liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu sung ngân sách nhà nước.
01 (một) xe mô tô, có số khung: VHTDCG0H4UM000214 là do bà Trần Thị Kim L đứng tên chủ sở hữu, bà L đã bán cho người khác không rõ lai lịch; còn số máy: RPTDS152FMH00042625 là của chiếc xe do ông Nguyễn Ngọc H1 đứng tên chủ sở hữu, ông H1 đã bán cho người khác không rõ lai lịch; bị cáo Q khai chiếc xe trên là mượn của đối tượng tên Nguyễn Văn T2 không rõ lai lịch. Xét chiếc xe bị cáo có được không rõ nguồn gốc, có số khung, số máy không phù hợp, không đủ điều kiện lưu hành nên cần giao cho Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hửu hợp pháp của xe có số khung, số máy nêu trên trong thời gian nhất định, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Xét 01 (một) biển số 71H8-7528 có số trùng với số xe của bà Phạm Thị T3, tuy nhiên chiếc xe và biển số bà T3 đang sử dụng nên biển số trên không còn giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Trương Nhật Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh K 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 01 năm 2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K1 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trương Nhật Q, Huỳnh Thanh K và hình dấu Công an P1, Quận E (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,3675g (hai phẩy ba sáu bảy năm gam), loại Methamphetamine (Số mẫu vật còn lại sau giám định trong 01 (một) gói niêm phong số 370/24-Q5, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Phòng K3 và cán bộ Công an Q1); 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) biển số 71H8-7528.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi, I: 864087062333341/78; 01 (một) điện thoại di động hiệu SamSung, Imei: 354551898354315/01; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số Imei: 350777738960748.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp của 01 (một) xe mô tô, có số khung: VHTDCG0H4UM000214, số máy: RPTDS152FMH00042625 trên phương tiện thông tin đại gian 01 (một) năm, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách nhà nước. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thanh Tiền |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Nhật Q-Tàng trữ trái phép chất ma túy
