|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 25/9/2024
V/v: “ Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn”;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Tiến
2. Ông Lê Cát Tưởng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Minh Phương – Thư ký TAND Thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 282/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2024 về việc: “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/ 2024/ QĐXXST- HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị M - Sinh năm 1988 - Có mặt
Nơi cư trú: Lô A phố N, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G - Sinh năm 1994 - Vắng mặt
Nơi cư trú: Lô A phố N, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G kết hôn với nhau vào năm 2014, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T,Thành phố T.
Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, dẫn đến vợ chồng thường xuyên sảy ra xung đột.
Quá trình vợ chồng mâu thuẫn, vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng không có kết quả. Cuộc sống vợ chồng ngày càng trở nên căng thẳng, bất đồng ngày càng lớn.
Nay chị M xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.
Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011 và cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014. Hiện nay cháu Nguyễn Văn D đang ở với anh G, còn cháu Nguyễn Xuân M1 đang ở với chị M.
Ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014 và giao cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011 cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Về tài sản và công nợ: Chị Lê Thị M không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về phía anh Nguyễn Trường G là bị đơn trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Mặt khác Tòa án còn liên lạc với anh G qua điện thoại để anh G đến Toà án trình bày ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị M. Nhưng anh G vẫn không đến Toà án để làm việc, không tham gia phiên tòa và không có lý do.
Kết quả thu thập chứng cứ và xác minh tại chính quyền địa phương: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G chung sống với nhau tại phố N, Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010, nhưng đến năm 2014 anh chị mới đăng ký kết hôn. Anh G, chị M có 02 con chung. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì chính quyền không nắm được vì anh chị không báo cáo. Nay chị M yêu cầu xin ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản khai, cháu Nguyễn Xuân M1 và cháu Nguyễn Văn D trình bày. Nếu bố mẹ các cháu ly hôn thì cháu Nguyễn Văn D có nguyện vọng được ở với bố, còn cháu Nguyễn Xuân M1 có nguyện vọng ở với mẹ.
Tại phiên tòa chị Lê Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện VKS:
Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý đến quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Pháp luật. Riêng bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện VKSND Thành phố Thanh Hóa đề nghị HĐXX:
Áp dụng:
Điều 56, 81, 82, và 83 của Luật HNGĐ. Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và NQ 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Trường G.
Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011 và cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014.
Ly hôn, giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014 và giao cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Anh G, chị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét;
Về án phí: Chị Lê Thị M phải chịu 300.000đ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thành phố T, là thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Nguyễn Trường G đã được tống đạt hợp lệ lần 2, nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà, không có lý do. Do đó HĐXX căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh G.
[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, nên dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng và anh chị đã sống ly thân nhau. Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh G không đến Toà án để trình bày ý kiến của mình và không tham gia phiên hoà giải, chứng tỏ anh G không có thiện chí để Toà án hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Trường G.
[3] Về con chung: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011 và cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014.
Ly hôn, Chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014 và giao cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011. Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con chung của chị Lê Thị M là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với điều kiện thực tế, nguyện vọng của các cháu. Mặt khác hiện nay cháu Nguyễn Văn D đang ở với anh G, còn cháu Nguyễn Xuân M1 đang ở với chị M. Do đó HĐXX căn cứ vào Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Lê Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014 và giao cho anh G trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011. Không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Anh G, chị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở;
[4] Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Lê Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Đ a Khoản 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39; Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 56; Điều 81; 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điểm a Khoản 5 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị M được ly hôn anh Nguyễn Trường G.
- Về nuôi con chung: Chị Lê Thị M và anh Nguyễn Trường G có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011 và cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014.
Ly hôn, giao cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân M1, sinh ngày 05/01/2014 và giao cho anh Nguyễn Trường G trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn D, sinh ngày 17/02/2011.
Không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ai.
Anh G, chị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ: Anh, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Lê Thị M phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số 0001594 ngày 07/ 6/ 2024 của Chi cục THADS thành phố T ( Chị M đã nộp đủ tiền án phí).
- Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Trường G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hương |
Bản án số 87/2024/HNGĐ - ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 87/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị M +n Ng. Trường G
