Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST.

Ngày: 25-9-2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Tăng Tài Thủ.

- Bà Trần Thúy Kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trịnh Thái Q, sinh năm 1982 tại Cần Thơ; Đăng ký thường trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ (có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Thị T, sinh 1982 tại Hậu Giang; Đăng ký thường trú: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Lâm Thị V, sinh năm 1956; Chồng: Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 (đã chết); con: có 02 người (lớn - sinh năm 1998, nhỏ - sinh năm 2006); Tiền án, tiền sự: chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2024 cho đến nay, tại Nhà Tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ (có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Ông Nguyễn Hữu T1 - sinh ngày: 01/02/1954. Địa chỉ: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Đỗ Thị Ánh L – sinh năm 1970. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

  2. Bà Nguyễn Thị H1 – sinh năm 2006. Địa chỉ: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ ngày 20/05/2024, Trịnh Thái Q điều khiển xe mô tô biển số 65H7-3674 chở Nguyễn Thị T từ nhà T ngụ ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang về nhà của Q tại khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do cần tiền chi tiêu nên Q nói với T là trên đường đi tìm những người bán vé số giả vờ mua vé số để chiếm đoạt bán lấy tiền chi tiêu, T đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Q và T đi đến đoạn đường gần cầu T tuyến tránh T thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, T phát hiện ông Nguyễn Hữu T1 đang đi bộ phía trước trên tay cầm vé số nên nói với Q, do có sự thống nhất từ trước Q dừng xe mô tô giả vờ hỏi mua vé số, ông T1 đưa 168 tờ vé số các đài Đồng Tháp và Cà Mau cho T, T giả vờ lựa và cố tình làm rơi 02 tờ vé số xuống đất để ông T1 cúi xuống nhặt. Trong lúc ông T1 nhặt 02 tờ vé số, T nói với Q chạy đi, Q tăng ga tẩu thoát, ông T1 chạy bộ đuổi theo không kịp nên đến Công an phường T trình báo. Trên đường tẩu thoát, T kiểm tra vé số chiếm đoạt của ông T1 được 166 tờ, T giữ lại 06 tờ vé số, còn 160 tờ vé số Q và T bán cho bà Đỗ Thị Ánh L đang bán vé số tại ngã tư đèn tín hiệu phường T với giá là 8.300 đồng/tờ, tổng số tiền 1.328.000 đồng, cả hai sử dụng 100.000 đồng đổ xăng còn lại 1.228.000 đồng Thanh cất giữ.

Khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Công an phường và Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trích xuất camera an ninh, xác định: Trịnh Thái QNguyễn Thị T là người thực hiện hành vi cướp giật 166 tờ vé số của của ông Nguyễn Hữu T1 nên tiến hành mời Q và T làm việc. Qua làm việc Q, T thừa nhận hành vi phạm tội. Đồng thời, Q tự nguyện giao nộp (bút lục 47): 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H7-3674 đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 213.000 đồng; 01 áo khoác màu đen đã qua sử dụng; 01 quần dài màu xám đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu vàng sọc trắng; 01 mũ lưỡi trai màu nâu đen và 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng; T tự nguyện giao nộp 06 tờ số (bút lục 50); Tiền Việt Nam 1.228.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung J7 Pro màu vàng đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám; 01 áo khoác bông màu trắng đen và 01 áo khoác thun bông màu vàng có hoa văn.

2

Quá trình điều tra, Q và T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình (Bút lục 73 đến 88), phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập. Ngoài ra, Q và T còn khai nhận vào ngày 07/5/2024 cả hai thực hiện hành vi cướp giật vé số trên địa bàn quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Về vật chứng, đồ vật, tài liệu: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T đã tạm giữ theo quy định và trả lại ông T1 06 tờ vé số; Nguyễn Thị H1 (con của T) tự nguyện nộp 372.000 đồng để khắc phục hậu quả cho T và Q (Bút lục 68). Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt đã ra Quyết định trả lại tài sản cho ông T1 số tiền 1.600.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông T1 đã nhận số tiền bồi thường trị giá 160 tờ vé số bị cướp giật là 1.600.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSTN ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ truy tố Trịnh Thái QNguyễn Thị T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây được gọi là Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội và thống nhất nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không ý kiến gì khác.

Người bị hại Nguyễn Hữu T1 vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày như trong quá trình điều tra, và yêu cầu xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật, ngoài ra không bổ sung gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1 vẫn giữ nguyên ý kiến như trong quá trình điều tra, không yêu cầu bị cáo T trả lại bà số tiền 372.000 đồng. Ngoài ra, bà không trình bày gì thêm.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T phạm tội Cướp giật tài sản.

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng: Điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T. Đề nghị Xử phạt bị cáo Trịnh Thái Q từ 03 năm đến 04 năm tù; bị cáo Nguyễn Thị T từ 03 năm đến 04 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

3

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Hữu T1 đã nhận số tiền bồi thường của 160 tờ vé số bị cướp giật trị giá là 1.600.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không đề cập giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe môtô biển kiểm soát 65H7-3674 thu giữ của Trịnh Thái Q do đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Trả lại tài sản thu giữ cho các bị cáo: Trịnh Thái Q số tiền 213.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng; Nguyễn Thị T 01 (một) điện thoại di động Samsung J7 Pro màu vàng đã qua sử dụng do không liên quan đến tội phạm.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu xám đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu vàng sọc trắng có chữ “ĐẠM CÀ MAU” đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu đen thu giữ của bị cáo Q; 01 (một) nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám; 01 (một) áo khoác bông màu trắng đen và 01 (một) áo khoác thun bông màu vàng có hoa văn thu giữ của bị cáo T không có giá trị sử dụng và các bị cáo cũng không có nhu cầu nhận lại.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi đã phạm, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để các bị cáo sớm trở về gia đình phấn đấu sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Ánh L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét, trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu thập rõ lời khai của đương sự vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại phiên tòa. Do đó, việc vắng mặt của đương sự

4

nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Về nội dung: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo QT đều đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng... Như vậy, có cơ sở xác định, vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 20/5/2024 tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T đã có hành vi chiếm đoạt 166 tờ vé số kiến thiết đài Đồng Tháp và đài Cà Mau, mỗi tờ có mệnh giá bán 10.000 đồng với tổng giá trị là 1.660.000 đồng của bị hại Nguyễn Hữu T1 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi sai trái mà các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 171 Bộ luật hình sự. Do khi thực hiện hành vi các bị cáo sử dụng xe mô tô mang biển kiểm soát 65H7-3674 làm phương tiện phạm tội thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm nên các bị cáo phải gánh chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm d khoản 2 của Điều luật này. Đồng thời, tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt 166 tờ vé số kiến thiết của bị hại thì ông T1 đã trên 70 tuổi nên các bị cáo còn phải gánh chịu thêm tình tiết định khung hình phạt là phạm tội đối với người già yếu quy định tại điểm g khoản 2 của Điều 171 Bộ luật hình sự là phù hợp. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội mà các bị cáo thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, cần thiết phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đánh giá vai trò, mức độ phạm tội và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[4.1] Trong vụ án này bị cáo Q là người chủ mưu thực hiện hành vi cướp giật vé số của bị hại, cũng chính bị cáo là người điều khiển xe chở bị cáo T đi cướp giật tài sản. Còn bị cáo T với vai trò là đồng phạm, tham gia giúp sức cho Q để cướp giật tài sản của người khác. Mặc dù, giữa các bị cáo không có bàn tính, phân công nhiệm vụ cụ thể, tuy nhiên khi T phát hiện bị hại đang đi bộ trên đường trên tay có cầm sấp vé số kiến thiết và đề xuất rủ Q cướp giật tài sản để bán lấy tiền tiêu xài và cũng chính bị cáo là người thực hiện hành vi cướp giật 166 tờ vé số của bị hại, cho thấy bị cáo cũng giúp sức tích cực thực hiện tội phạm và cả hai bị cáo đều hưởng lợi chung số tiền thu lợi có được nên xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của hai bị cáo là ngang nhau. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là rất táo bạo và liều lĩnh, với thủ đoạn sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ để làm phương tiện đi cướp giật tài sản mà các bị cáo thực hiện rất có khả năng xảy ra nguy hiểm đối với sức khỏe, tính mạng của

5

bị hại cũng như những người đang tham gia giao thông và nguy hiểm cho chính bản thân các bị cáo. Vì vậy, thiết nghĩ cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với thời gian như đại diện Viện kiểm sát đề nghị để các bị cáo có đủ thời gian sửa chữa sai phạm của chính mình từ đó có ý thức tôn trọng, chấp hành pháp tốt Pháp luật của Nhà nước

[4.2] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;sau khi sự việc xảy ra các bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi sai trái của bản thân nên đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả xong cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do hiện nay các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong điều tra bị hại ông Nguyễn Hữu T1 đã nhận số tiền bồi thường của 160 tờ vé số trị giá là 1.600.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[9] Về xử lý vật chứng: như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về vấn đề khác:

Đối với bà Đỗ Thị Ánh L do không biết 160 tờ vé số do QT do phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Riêng hành vi cướp giật vé số trên địa bàn quận Ô, thành phố Cần Thơ, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Ô, thành phố Cần Thơ đã khởi tố vụ án, bị can trong một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[12] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T.
  • - Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

* Tuyên bố: Các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    • - Xử phạt bị cáo Trịnh Thái Q mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù;
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo Q và T tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2024.

    Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe máy dáng Dream màu nâu biển số 65H7-3674 đã qua sử dụng, không kính chiếu hậu bên phải, không có bửng chắn bùn thu giữ của Trịnh Thái Q.
    • - Hoàn trả cho các bị cáo: Trịnh Thái Q số tiền 213.000đ (Hai trăm mười ba ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen đã qua sử dụng; Nguyễn Thị T: 01 (một) điện thoại di động Samsung J7 Pro màu vàng đã qua sử dụng;
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo khoác màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu xám đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu vàng sọc trắng có chữ “ĐẠM CÀ MAU” đã qua sử dụng; 01 (một) mũ lưỡi trai màu nâu đen thu giữ của bị cáo Q; 01 (một) nón bảo hiểm loại nón sơn màu xám; 01 (một) áo khoác bông màu trắng đen và 01 (một) áo khoác thun bông màu vàng có hoa văn thu giữ của bị cáo T.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Trịnh Thái QNguyễn Thị T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

7

Nơi nhận:

  • - TAND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND TP.Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt;
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cướp giật tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trịnh Thái Q và Nguyễn Thị T phạm tội “Cướp giật tài sản”. 1. Về trách nhiệm hình sự: - Xử phạt bị cáo Trịnh Thái Q mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) thángtù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù đơi với các bị cáo Q và T tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 20/5/2024. Hình phạt bổ sung: Miễn cho các bị cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger