Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 24-10-2023

V/v xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
  2. Ông Nguyễn Đinh Cường

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Phụng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long: (không tham gia phiên toà).

Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 199/2023/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2023, về việc: “xin ly hôn, nuôi con“, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92A/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Mạnh K, sinh 1984 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh 1985 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 7 năm 2023, đơn xin xét xử vắng mặt ngày 08 tháng 9 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn ông Phạm Mạnh K trình bày: Nguyên đơn ông Phạm Mạnh K với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T cưới nhau trên cơ sở quen biết và được gia đình hai bên chấp thuận tổ chức cưới, hỏi theo phong tục tập quán vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28, ngày 14 tháng 4 năm 2016. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là tính tình không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm cự cãi nhau. Người thân hai bên vợ, chồng nhắc nhở hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, nên ly thân từ cuối năm 2021 cho đến nay. Vợ chồng chung sống có 01 con chung là cháu Phạm Trí T1, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2016. Hiện cháu T1 đang chung sống với bà T.

Do, sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông K làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Ông K xin được ly hôn với bà T.
  • Về con chung: Khi ly hôn ông K đồng ý giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi con chung, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông K xin vắng mặt phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử sơ thẩm vì bản thân bận đi làm xa không về tham dự được.

Trong quá trình giải quyết vụ án thì cháu Phạm Trí T1 ý kiến: Cháu Phạm Trí T1 là con chung của bà T với ông K, trường hợp Tòa án giải quyết cho ông K, bà T ly hôn thì cháu T1 xin được ở với bà T, ngoài ra không ý kiến khác.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bà T biết việc Tòa án đã thụ lý vụ án cũng như các yêu cầu của ông K, nhưng bà T không có văn bản trình bày ý kiến, vắng mặt phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 23 tháng 8 năm 2023, ngày 08 tháng 9 năm 2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định;

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Phạm Mạnh K khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T là quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn bà T có nơi cư trú tại huyện M. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ngày 06 tháng 10 năm 2023 vụ án được đưa ra xét xử, Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà T vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hôm nay xét xử lần 2, mặc dù đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bà T tiếp tục vắng mặt không lý do, ông K có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông K với bà T cưới nhau trên cơ sở quen biết và được gia đình hai bên chấp thuận tổ chức cưới, hỏi theo phong tục tập quán vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 28, ngày 14 tháng 4 năm 2016 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được công nhận là vợ chồng.

Ông K cho rằng sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2021, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng cùng gia đình động viên khắc phục mâu thuẩn nhiều lần nhưng không thể hàn gắn lại được, nên ly thân từ cuối năm 2021 đến nay. Nay ông K yêu cầu được ly hôn với bà T. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết tại Tòa án bà T không tham gia hòa giải, xét xử, không có văn bản trình bày ý kiến. Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng là có xảy ra trên thực tế, tình nghĩa vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng. Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa ông K với bà T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc ông K yêu cầu được ly hôn với bà T là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 51, 53, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Cháu Phạm Trí T1, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2016, hiện đang chung sống với bà T, khi ly hôn ông K đồng ý giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét, trong quá trình giải quyết vụ án cháu T1 có nguyện vọng sống với mẹ là bà T, bà T không có ý kiến cũng như cung cấp chứng cứ để Hội đồng xét xử xem xét, hiện tại cháu T1 sinh hoạt, học tập ổn định bên bà T, giao cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt. Do đó, giao cháu T1 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con do bên trực tiếp nuôi con bà T không yêu cầu, nên không xem xét.

[2.3] Quyền và nghĩa vụ về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Không yêu cầu giải quyết, nên không xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 24, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông K phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và các Điều 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 24, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử;

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Mạnh K;

  1. Xử cho nguyên đơn ông Phạm Mạnh K được ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Trí T1, sinh ngày 25 tháng 3 năm 2016 cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con, do bên trực tiếp nuôi con bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng T không yêu cầu, nên không xem xét.

    Bên không trực tiếp nuôi con nguyên đơn ông Phạm Mạnh K có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

  4. Quyền và nghĩa vụ về tài sản, nợ phải thu, nợ phải trả: Không yêu cầu giải quyết, nên không xét.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Mạnh K nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, lai số: № 0001130, ngày 07 tháng 8 năm 2023, nên không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa báo cho biết có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND (P.KTNV&THA);
  • - VKSND huyện MT;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã N;
  • - Các đương sự (K, T);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Hồng Phúc

(Đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2023/HNGĐ-ST ngày 24/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 87/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, nuôi con giữa anh K và chị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger