TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày: 24/9/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tám;
- Ông Huỳnh Thái Việt;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 20 tháng 9 năm 2024 và 24 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 và Quyết định tạm ngưng phiên toà số 01/2024/HSST-QĐ ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Họ và tên: Trần Văn C (Tên gọi khác: Ba Chiều); giới tính: Nam. Sinh ngày: 01/01/1981, tại: huyện V tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Học vấn: 5/12. Nghề nghiệp: Không. Nơi thường trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Họ và tên cha: Trần C1 (đã chết). Họ và tên mẹ: Trần Thị N; sinh năm: 1951. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Mỹ H; sinh năm: 1976. Bị cáo có 02 con, sinh năm: 2005 và sinh năm: 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 15/3/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm xử phạt 30 tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" tại Bản án số 26/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/7/2002; đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm vào ngày 17/5/2010. Về phần bồi thường dân sự, các bị hại không có đơn yêu cầu và đã hết thời hiệu thi hành án.
- Ngày 09/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm xử phạt 12 tháng tù về tội "Hủy hoại tài sản" tại Bản án số 187/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2004; đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm vào ngày 17/5/2010.
- Ngày 05/10/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh K đưa vào Cơ sở giáo dục A – Bộ C4, thời hạn 24 tháng tại Quyết định số 1114/QĐ-UB(NC) về hành vi "Trộm cắp tài sản, Gây rối trật tự công cộng". Chấp hành xong ngày 07/8/2007.
- Ngày 21/6/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm xử phạt 01 năm tù về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" tại Bản án số 105/2010/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2011; đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 21/9/2011, đối với án phí hình sự phúc thẩm thì C không phải chịu án phí.
- Ngày 21/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” tại Bản án số 31/2023/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2024.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 26/4/2024, chuyển tạm giam ngày 29/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại:
- Ông Trần Hữu P; sinh năm 1973; địa chỉ: Khu phố E, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Xí nghiệp quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả- Chi nhánh công ty cổ phần Đ1 Cả tại Phú Yên; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên (Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Thanh T- Chức vụ: Phó giám đốc).
- Trung tâm hạ tầng miền T- Chi nhánh Tổng công ty H3; địa chỉ: Lô S, đường số C, khu công nghiệp A, Phường A, Quận S, Thành phố Đà Nẵng, Việt Nam (Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Hồng K- Chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn H1: Phó đài viễn thông- Theo văn bản uỷ quyền số 1411 ngày 16/9/2024).
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Phước H2; sinh năm 1996; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Nguyễn H1; sinh năm: 1962; địa chỉ: 1 N, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
-Người làm chứng:
- Ông Đặng Trường K1; sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa
- Ông Võ Văn T1; sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Anh Trần Quốc T2; sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Đinh Quốc C2; sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Võ Hữu T3; sinh năm 1982; địa chỉ: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Ngọc S; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
- Ông Doãn Ngọc Đ; sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa
(Ông Nguyễn H1 và ông Doãn Ngọc Đ có mặt. Ông Nguyễn Phước H2 và Trần Hữu P có đơn xin vắng mặt. Tất cả người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng khác đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do thường bị Trần Hữu P và Nguyễn Phước H2 là nhân viên của Xí nghiệp quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả nhắc nhở vì thường đi bộ vào đường dẫn nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/3/2023, Trần Văn C đi bộ đến chốt trực hầm Cổ Mã, thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa để gặp P và H2 rồi nói “Tụi mày bữa sau không được đến trực ở đây nữa nghe chưa”, rồi C bỏ đi.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/3/2024, Trần Hữu P và Nguyễn Phước H2 vẫn đến chốt trực để làm nhiệm vụ trực chốt. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, anh P đang ngồi tại chốt trực làm nhiệm vụ còn anh H2 đang đi vệ sinh ở phía sau. Lúc này C cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm đi đến chốt trực hầm Cổ Mã . Nhìn thấy P, C cầm dao chỉ vào anh P rồi nói “Hôm qua tao nói rồi mà giờ mày còn ở đây tao chém” rồi lập tức cầm dao đi đến nơi anh P đang ngồi, do sợ bị Chiều tấn công nên anh P bỏ chạy khỏi chốt trực. Chiều đi đến chốt trực thì thấy có 01 gậy điều tiết giao thông đang để trên bàn nhựa mà P đang ngồi (là tài sản của Xí nghiệp quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả giao cho P và H2 để làm nhiệm vụ) và 01 túi xách của anh H2 đang treo trên võng gần chốt trực, bên trong túi xách có chứa (01 cục sạc dự phòng, 01 cục sạc điện thoại Iphone, 01 dây sạc điện thoại Iphone), C lấy số tài sản này rồi bỏ đi. Thấy Chiều lấy số tài sản trên bỏ đi, anh P gọi điện thoại cho Công an xã V trình báo sự việc. Cùng lúc này anh H2 đi vệ sinh ra thì nhìn thấy C đang đi bộ về hướng hầm Cổ Mã nên cùng P đi theo phía sau xem Chiều đi về hướng nào thì anh P phát hiện 01 bộ đàm liên lạc (là tài sản của Xí nghiệp quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả giao cho P và H2 để làm nhiệm vụ) bị vứt ở bên đường, cách chốt trực khoảng 30 mét, nên P nhặt bộ đàm trên mang về lại Chốt trực. Đến ngày 09/3/2023, anh H2 đi đến G để gặp Chiều, C đã tự nguyện trả lại cho anh H2 số tài sản trên.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 445/KL-TCKH.TTHS ngày 12/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
- 01 gậy điều tiết giao thông màu cam, tay cầm màu đen, đều làm bằng nhựa, trị giá: 105.000 đồng.
- 01 túi xách bằng da, loại túi đeo chéo lưng, màu caro xám đen, không có nhãn hiệu, trị giá: 100.000 đồng.
- 01 cục sạc dự phòng màu đen, hiệu AVA, dung lượng 10.000mah (mili ampe giờ), trị giá: 210.000 đồng.
- 01 cục sạc Iphone màu trắng, hiệu “bagi”, loại 20W, trị giá: 360.000 đồng.
- 01 dây sạc Iphone màu đen, hiệu DRAGON, trị giá: 40.000 đồng.
- 01 bộ đàm liên lạc hiệu MOTOROLA, trị giá 4.312.500 đồng.
Ngoài ra, quá trình điều tra xác định Trần Văn C còn có hành vi phạm tội như sau: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/3/2023, Trần Văn C mang theo 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm đi bộ từ quốc lộ A vào đường dẫn hầm đường bộ Cổ Mã thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Khi đi đến đoạn giao nhau giữa quốc lộ A và đường dẫn, Chiều sử dụng dao chặt vào hệ thống dây cáp quang tín hiệu của Xí nghiệp Vận hành hầm đường bộ Đèo C3 và Trung tâm hạ tầng miền T- Chi nhánh Tổng công ty H3 (sau đây gọi tắt là V- Net3) lắp đặt tại chân trụ phát tín hiệu làm đứt dây cáp quang và dây điện nguồn dẫn đến làm gián đoạn hệ thống cảnh báo giao thông, camera giám sát của đường hầm Cổ Mã và gián đoạn việc truyền tải tín hiệu của Tập đoàn H3. Sau khi phát hiện sự cố, Xí nghiệp Vận hành hầm đường bộ Đèo Cả và VNPT-Net3 đã tiến hành hàn nối lại cáp quang và dây điện nguồn để hệ thống hoạt động lại bình thường.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 558/KL-TCKH.TTHS ngày 29/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận:
- 01 sợi cáp quang 8core (8 lõi quang) để truyền tải thông tin liên lạc và hệ thống cảnh báo của hầm đường bộ, 8 lõi đều có cùng tiết diện từ 700 đến 800 nanomet, làm bằng chất liệu sợi thủy tinh (Vật tư cần thiết để khắc phục gồm: 70 mét cáp quang 8core; 02 hộp nối cáp (Măng xông 24 core) và 16 mối hàn), giá trị thiệt hại là 7.650.000 đồng. 01 dây điện nguồn kích thước: (2x25)mm², màu đen (Vật tư cần thiết để khắc phục gồm: 1,5 mét dây điện có tiết diện 2x25 mm²; 04 Cos nối có tiết diện 25 mm²; 03 cuộn băng keo điện và 02 mét Gen cách điện Dk16), giá trị thiệt hại là 1.930.000 đồng.
- 01 dây cáp quang truyền tín hiệu của V, loại 96 lõi có cùng tiết diện 9 micromet, làm bằng chất liệu sợi thủy tinh (Vật tư cần thiết để khắc phục gồm: 02 hộp nối cáp (Măng xông 24 core)), giá trị thiệt hại là 2.770.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại tài sản: 12.350.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Khi Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố điều tra đối với Chiều trong vụ án này thì Chiều đang bị tạm giam trong vụ án “Hủy hoại tài sản” được khởi tố theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 03 ngày 27/12/2022 và Quyết định khởi tố bị can số 10 ngày 27/12/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với Chiều trong vụ án này. Ngày 07/02/2024, Chiều chấp hành xong hình phạt tù của Bản án số 31/2023/HSST ngày 21/6/2023 về tội “Hủy hoại tài sản” của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì C không đến UBND xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa trình diện theo quy định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Lệnh Bắt bị can để tạm giam đối với Chiều nhưng đến khi hết thời hạn điều tra vụ án vẫn chưa thi hành được Lệnh bắt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và ra Quyết định truy nã đối với Chiều. Đến ngày 26/4/2024, C bị bắt theo Quyết định truy nã.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Ông Nguyễn H1 -Đại diện theo uỷ quyền của Công ty V1 thống nhất với nội dung truy tố bị cáo, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị xét xử vụ án theo quy định chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với tội “Cướp tài sản” xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Huỷ hoại tài sản” xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù. Áp dụng Điều 55 Bộ Luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là từ 06 năm 09 tháng tù giam đến 07 năm 06 tháng tù giam. Về án phí: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, anh Trần Hữu P, anh Nguyễn Phước H2, Xí nghiệp Vận hành hầm đường bộ Đèo C3 và Trung tâm hạ tầng miền T- Chi nhánh Tổng công ty H3 (V- Net3) không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Anh Trần Hữu P, anh Nguyễn Phước H2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người làm chứng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
[3] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 03/3/2023, tại thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Trần Văn C đã có hành vi dùng dao tự chế chặt vào hệ thống dây cáp quang tín hiệu của Xí nghiệp Vận hành hầm đường bộ Đèo C3 và VNPT-Net3 lắp đặt tại chân trụ phát tín hiệu làm đứt dây cáp quang và dây điện nguồn dẫn. Tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 12.350.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Tiếp đó, đến khoảng hơn 16 giờ 00 phút ngày 08/3/2023, tại chốt trực hầm C, thuộc thôn C, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Trần Văn C đã có hành vi dùng dao tự chế dài khoảng 60cm (là hung khí nguy hiểm) dọa chém, sử dụng vũ lực ngay tức khắc, rượt đuổi anh Trần Hữu P bỏ chạy, chiếm đoạt 01 gậy điều tiết giao thông có giá trị 105.000 đồng (Một trăm lẻ năm nghìn đồng) là tài sản của Xí nghiệp Vận hành hầm đường bộ Đèo Cả giao cho anh Trần Hữu P quản lý, sử dụng để thực hiện nhiệm vụ.
Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội "Cướp tài sản" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 và tội “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số 85/CT-VKS-NT ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo về hành vi và tội danh như trên trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đều được thực hiện vào ban ngày, tại nơi công cộng thể đã hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật của bản thân bị cáo. Hành vi này trực tiếp xâm hại đến quyền tài sản, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng không rút ra được bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và chấp hành xong hình phạt tù của bản án khác, bị cáo không đến trình diện chính quyền địa phương. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, áp dụng hình phạt có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, xuyên suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải.
Đối với hành vi “Cướp tài sản”: Tài sản bị cướp là cây gậy điều tiết giao thông có giá trị không lớn (105.000 đồng), sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện trả lại cây gậy này cho người bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Đối với hành vi “Huỷ hoại tài sản”: Bị cáo đã tích cực vận động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về các vấn đề khác:
- Bị cáo có hành vi chiếm đoạt 01 túi xách bằng da, 01 cục sạc dự phòng, 01 cục sạc Iphone, 01 dây sạc Iphone của anh Nguyễn Phước H2. Đây là tài sản riêng của anh H2, khi anh H2 đi vệ sinh thì số tài sản này được treo trên võng gần chốt trực, H2 không nhờ Trần Hữu P trông coi số tài sản này. Khi bị cáo dùng dao đe dọa, rượt đuổi làm anh P bỏ chạy thì H2 không có mặt tại hiện trường, Bị cáo thấy túi xách của Hoàng treo trên võng không có người trông coi nên chiếm đoạt. Hành vi này có dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên tài sản bị chiếm đoạt chỉ có trị giá 710.000 đồng (bảy trăm mười nghìn đồng). Trước đó, bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, không có tiền án về các tội liên quan đến tài sản nên hành vi của bị cáo chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi này đã cấu thành hành vi vi phạm hành chính trên lĩnh vực an ninh trật tự, tuy nhiên đến nay thời hiệu xử lý hành chính đã hết nên Công an huyện V không xử phạt hành chính đối với bị cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
- Đối với 01 bộ đàm liên lạc hiệu MOTOROLA mà anh P và anh H2 khai báo bị mất và tìm thấy nó bị vứt bỏ cách chốt trực khoảng 30 mét. Bị cáo khai khi chiếm đoạt tài sản ở chốt bảo vệ thì không thấy bộ đàm, không chiếm đoạt và vứt bỏ bộ đàm, bản thân P và H2 đều thừa nhận không nhìn thấy việc bị cáo có hành vi chiếm đoạt bộ đàm, các đoạn dữ liệu camera được trích xuất tại hiện trường cũng không thể hiện được việc bị cáo có hành vi chiếm đoạt chiếc bộ đàm này. Vì vậy, chưa có đủ cơ sở để xử lý đối với bị cáo về hành vi chiếm đoạt chiếc bộ đàm.
[6] Về vật chứng vụ án:
- 01 gậy điều tiết giao thông, 01 túi xách bằng da, 01 cục sạc dự phòng, 01 cục sạc Iphone, 01 dây sạc Iphone, 01 bộ đàm. Bị cáo đã tự nguyện trả lại cho anh Nguyễn Phước H2.
- Đối với 01 con dao tự chế dài khoảng 60cm mà bị cáo dùng chặt phá hệ thống dây cáp quang và đe dọa anh Trần Hữu P, sau khi phạm tội bị cáo đã vứt bỏ và không nhớ được đã vứt bỏ ở vị trí nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở để truy tìm và thu giữ.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Sau khi sự việc xảy ra, vợ của bị cáo là bà Nguyễn Thị Mỹ H đã thay mặt bị cáo bồi thường thiệt hại cho công ty V2 số tiền 2.773.000 đồng (hai triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn đồng) và Xí nghiệp Quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả số tiền 9.580.000 đồng (chín triệu năm trăm tám mươi nghìn đồng). Cả 02 đơn vị này đã nhận đủ tiền và không có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại cũng như các yêu cầu khác về dân sự trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn số tiền mà bà H đã thay mặt bị cáo bồi thường cho VNPT-Net3 và Xí nghiệp Quản lý, vận hành hầm đường bộ Đèo Cả.
- Các anh Nguyễn Phước H2 và Trần Hữu P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự đồng thời có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo 06 năm tù giam.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Huỷ hoại tài sản”; xử phạt bị cáo 09 tháng tù giam.
Căn cứ Điều 55 Bộ Luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung phải chấp hành của bị cáo đối với 02 tội danh là: 06 năm 09 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Lãm |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về cướp tài sản và hủy hoại tài sản
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C huỷ hoại- cướp tài sản
