Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 87/2024/HSST

Ngày: 24/6/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Liên.
  • - Thư ký phiên toà: Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa- Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/HSST ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn L; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/10/1981 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Đức L1, sinh năm 1955 và bà Cao Thị T, sinh năm 1957; Anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Trần Thị N, sinh năm 1986; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 30/7/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/9/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/6/2002, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt ngày 21/12/2002;

  • Ngày 28/8/2003, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • Ngày 29/8/2003, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt của bản án trước là 48 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 14/5/2007
  • Ngày 24/12/2008, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/10/2010.
  • Ngày 06/3/2014, bị Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/01/2016.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Trần Đ; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/9/1989 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Trần Văn L2, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1957; Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Thương T1, sinh năm 1989; Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 15/10/2022 bị Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” hiện chưa nộp phạt; Nhân thân: ngày 11/3/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về hành vi “Giữ người trái pháp luật”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 25/12/2023, Nguyễn Văn L đi đến nhà Nguyễn Trần Đ để mua ma túy. Trên đường đi L gặp Đ tại khu vực đường K, thị trấn D, huyện D, L hỏi mua ma túy (Methamphetamine) và đưa cho Đ 3.000.000 đồng. Đ cầm tiền và hẹn Lý tối sẽ đưa ma túy. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Đ gọi điện thoại cho S (trú tại huyện Q, tỉnh Nghệ An) để hỏi mua ma túy Methamphetaminevới số tiền 6.000.000 đồng. S đồng ý và hẹn Đ đi đến khu vực ngã tư đường mòn thuộc xã N, huyện N để lấy ma tuý. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Đ gọi điện thoại cho L nói: “Anh có rảnh không chạy xe máy lên chỗ Nghĩa T2 cấy” thì L đồng ý. Khoảng 30 phút sau, Đ đi xe máy đến trước cổng nhà và gọi L đi. Sau đó, L điều khiển xe máy đi theo Đồng, khi đi đến khu vực xã N, huyện N, L dừng xe máy bên đường chờ Đ. Sau đó, Đ đi đến khu vực cách ngã tư đường mòn và cách chỗ L đứng đợi khoảng 500m, khi đến nơi Đ thấy S đã đứng đợi ở đó, Đ đưa cho S số tiền 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng), S đưa lại cho Đ 01 (Một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa các viên ma tuý (Methamphetamine). Sau khi mua được ma tuý Đ quay lại chỗ L đang đứng đợi và cả hai đi về nhà Đ. Khi về nhà, Đ lên phòng ngủ của Đ trước rồi lấy một ít ma tuý từ gói ma tuý vừa mua được ra cất giấu vào 01 (Một) lọ nhựa màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen để ở trên nắp máy giặt, đặt ở góc nhà vệ sinh tầng 2 nhà ở của Đ. Sau đó L cũng lên phòng ngủ của Đ thì Đ đưa số ma tuý còn lại cho L. L cầm gói ma túy đó về nhà rồi cất giấu vào 01 (Một) lọ thuỷ tinh màu trắng, có nút đậy màu vàng và 01 (Một) lọ thuỷ tinh màu đỏ, có nắp đậy màu vàng rồi bỏ vào túi áo khoác phía trước bên trái áo L đang mặc.

2

Vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 26/12/2023, tại phòng khách trong nhà Nguyễn Văn L thuộc khối B, thị trấn D, huyện D, Tổ công tác của Công an huyện D phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 2 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi áo khoác phía trước bên trái áo L đang mặc 01 (Một) lọ thuỷ tinh màu trắng, có nút đậy màu vàng và 01 (Một) lọ thuỷ tinh màu đỏ, có nắp đậy màu vàng, bên trong mỗi lọ đều chứa các viên ma túy (Methamphetamine). Sau đó, tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng thu giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa Nguyễn Văn L về trụ sở Công an huyện D để làm việc.

Vào hồi 13 giờ 05 phút ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Trần Đ và áp giải Nguyễn Trần Đ về trụ sở Công an huyện D để làm việc.

Vào hồi 13 giờ 10 ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L tại khối B, thị trấn D, huyện D. Quá trình khám xét thu giữ tại tủ kệ phòng khách chỗ ở của Nguyễn Văn L 01 (Một) túi nilon màu đen, bên trong có chứa 11 (Mười một) khối hình trụ có đặc điểm giống nhau, kích thước (8x2,5)cm, bên ngoài được bọc bằng giấy màu hồng, một đầu gắn dây màu trắng là pháo nổ.

Vào hồi 15 giờ 10 ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trần Đ tại xóm A, xã D, huyện D. Quá trình khám xét, thu giữ trên nắp máy giặt đặt ở góc thềm nhà vệ sinh tầng 2 chỗ ở của Nguyễn Trần Đ 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, phần ống được quấn băng keo màu đen, kích thước dài 06cm, đường kính 03cm, bên trong có chứa các viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau là ma tuý (Methamphetamine).

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện D tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Và tại Bản kết luận giám định số 92/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • - 02 (Hai) mẫu viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau (Ký hiệu M1, M2) thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn L gửi tới giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 15,2 g (Mười lăm phẩy hai gam).
  • - Mẫu viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau (Ký hiệu M3) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trần Đ gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 3,1 g (Ba phẩy một gam).

Tại Bản kết luận giám định số 58/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 30/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: 11 (Mười một) khối hình trụ có đặc điểm giống nhau thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L có tổng khối lượng là 401,53 gam (Bốn trăm linh một phẩy năm mươi ba gam) là pháo, loại pháo nổ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L và Nguyễn Trần Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình, Đ khai mua ma túy để bán kiếm lời còn L mua với mục đích sử dụng.

* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm

3

  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

* Về vật chứng vụ án đã thu giữ gồm:

  • - 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L và Nguyễn Trần Đ sau khi đã lấy mẫu giám định.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh, máy đã qua sử dụng, số imeil: 355039101829827, số imei2: 355040101829825 thu giữ của Nguyễn Văn L,
  • - 01 (Một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh, IMEI 1: 865613056513538; IMEI 2: 865613056513520 thu giữ của Nguyễn Trần Đ,
  • - Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án huyện D.
  • - 08 (Tám) khối pháo nổ còn lại sau khi lấy mẫu giám định có tổng khối lượng là 308,03 (Ba trăm linh tám phẩy không ba gam), 01 (Một) túi nilon màu đen và giấy niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) túi nilon theo đúng quy định, hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKS-DC, ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 và Nguyễn Trần Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 249; điểm h khoản 1, Điều 52 điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm i, khoản 2, Điều 251 khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Đ mức án từ 10 năm đến 10 năm 06 sáu tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu sung công: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh, máy đã qua sử dụng, số imeil: 355039101829827, số imei2: 355040101829825 thu giữ của Nguyễn Văn L,

01 (Một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh, IMEI 1: 865613056513538; IMEI 2: 865613056513520 thu giữ của Nguyễn Trần Đ,

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon được niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm các đối tượng Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ còn lại sau khi lấy mẫu giám định gồm: 1,4gam (Một phẩy bốn gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; 10,1 gam (Mười phẩy một gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,1 gam (Hai phẩy

4

một) ma túy ma túy Methamphetamine ký hiệu M3; 01 (Một) lọ thủy tinh màu trắng có nút đậy màu vàng; 01 (một) lọ thủy tinh màu đỏ có nắp đậy màu vàng; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, phần ống có quấn băng keo màu đen và 02 (Hai) phong bì niêm phong ban đầu. Vật chứng không có giá trị sử dụng.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số NK97 ngày 09/5/2024 giữa Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện D.

Đối với 08 (Tám) khối pháo nổ còn lại sau khi lấy mẫu giám định có tổng khối lượng là 308,03 (Ba trăm linh tám phẩy không ba gam), 01 (Một) túi nilon màu đen và giấy niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) túi nilon theo đúng quy định, thu giữ của Nguyễn Văn L, hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D. Không phải là vật chứng trong vụ án hình sự do vậy được xử lý theo quyết định hành chính đã ban hành đối với Nguyễn Văn L.

Buộc bị cáo Nguyễn Trần Đ phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không tranh luận gì.

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để các bị cáo thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ Đồng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án; do đó đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 26/12/2023, tại phòng khách trong nhà Nguyễn Văn L thuộc khối B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn L đang có hành vi tàng trữ trái phép 15,2 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện D phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma tuý số 2 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Văn L khai số ma túy trên mua của Nguyễn Trần Đ với số tiền 3.000.000 đồng.

5

Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trần Đ thu giữ 3,1 gam ma túy Methamphetamine. Số ma túy này Đ cất giấu với mục đích bán kiếm lời.

Vì vậy, Nguyễn Văn L phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng 15,2 gam ma túy. Nguyễn Trần Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng 18,3 gam ma túy.

Hành vi của Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 249 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L theo tội danh và Điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của Nguyễn Trần Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i, khoản 2, Điều 251 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Trần Đ theo tội danh và Điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất vụ án: Xét vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo bất chấp sự nghiêm cấm của luật pháp để thực hiện hành vi phạm tội miễn sao nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của mình. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Đối với bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội trong trường hợp tái phạm, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của BLHS. Nhân thân bị cáo xấu đã từng bị Tòa án xét xử về các tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất túy”, “Trộm cắp tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

Đối với bị cáo Nguyễn Trần Đ phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có tiền sự về tội “Cố ý gây thương tích”, nhân thân bị cáo xấu đã bị Tòa án xét xử về tội “ Giữ người trái pháp luật”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tương ứng được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.

6

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

[6]. Đối với người đàn ông tên S là người đã bán ma túy cho Nguyễn Trần Đ (Theo lời khai của Đ). Tuy nhiên, do không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh.

Đối với số pháo thu của Nguyễn Văn L, L khai mua của một người đàn ông không quen biết qua mạng xã hội Zalo để sử dụng, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Tàng trữ hàng cấm là pháo nổ” đối với Nguyễn Văn L.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu sung công: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh, máy đã qua sử dụng, số imeil: 355039101829827, số imei2: 355040101829825 thu giữ của Nguyễn Văn L.

01 (Một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh, IMEI 1: 865613056513538; IMEI 2: 865613056513520 thu giữ của Nguyễn Trần Đ,

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon được niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm các đối tượng Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ còn lại sau khi lấy mẫu giám định gồm: 1,4gam (Một phẩy bốn gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; 10,1 gam (Mười phẩy một gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,1 gam (Hai phẩy một) ma túy ma túy Methamphetamine ký hiệu M3; 01 (Một) lọ thủy tinh màu trắng có nút đậy màu vàng; 01 (một) lọ thủy tinh màu đỏ có nắp đậy màu vàng; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, phần ống có quấn băng keo màu đen và 02 (Hai) phong bì niêm phong ban đầu. Vật chứng không có giá trị sử dụng.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số NK ngày 09/5/2024 giữa Công an huyện D và C thi hành án dân sự huyện D.

Đối với 08 (Tám) khối pháo nổ còn lại sau khi lấy mẫu giám định có tổng khối lượng là 308,03 (Ba trăm linh tám phẩy không ba gam), 01 (Một) túi nilon màu đen và giấy niêm phong ban đầu được niêm phong vào 01 (Một) túi nilon theo đúng quy định, thu giữ của Nguyễn Văn L, hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D. Không phải là vật chứng trong vụ án hình sự do vậy được xử lý theo quyết định hành chính đã ban hành đối với Nguyễn Văn L.

Buộc bị cáo Nguyễn Trần Đ phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

7

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i, khoản 2, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt:

1. Bị cáo Nguyễn Trần Đ 10 (Mười) năm 06 (S1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 26/12/2023.

Căn cứ vào điểm g, khoản 2, Điều 249; điểm h, khoản 1, Điều 52, điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt:

2. Bị cáo Nguyễn Văn L 08 (T3) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 26/12/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 màu xanh, máy đã qua sử dụng, số imeil: 355039101829827, số imei2: 355040101829825 thu giữ của Nguyễn Văn L,

01 (Một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO A15, màu xanh, IMEI 1: 865613056513538; IMEI 2: 865613056513520 thu giữ của Nguyễn Trần Đ,

Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon được niêm phong theo đúng quy định, bên ngoài được dán giấy niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm các đối tượng Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, bên trong có chứa vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ còn lại sau khi lấy mẫu giám định gồm: 1,4gam (Một phẩy bốn gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M1; 10,1 gam (Mười phẩy một gam) ma túy Methamphetamine, ký hiệu M2; 2,1 gam (Hai phẩy một) ma túy ma túy Methamphetamine ký hiệu M3; 01 (Một) lọ thủy tinh màu trắng có nút đậy màu vàng; 01 (một) lọ thủy tinh màu đỏ có nắp đậy màu vàng; 01 (Một) lọ nhựa màu trắng, phần ống có quấn băng keo màu đen và 02 (Hai) phong bì niêm phong ban đầu. Vật chứng không có giá trị sử dụng.

Các vật chứng trên đang được bảo quản tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho NK ngày 09/5/2024 giữa Công an huyện D và C thi hành án dân sự huyện D.

Buộc bị cáo Nguyễn Trần Đ phải nộp sung công quỹ Nhà nước số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trần Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS huyện D;
  • - VKS tỉnh N
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện D;
  • - Chi cục THA dân sự h.Diễn Châu;
  • - THA hình sự,
  • - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Lâm

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 87/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger