Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 24-5-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Văn Bình

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 377/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Chu Hà Thái T, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2005, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ A T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Anh H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 31/12/2023, tạm giam ngày 08/01/2024; có mặt.

  2. Nguyễn Sĩ Đức L, sinh ngày 30 tháng 11 năm 2005, tại Hải Phòng. ĐKHKTT: SỐ C H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sĩ H2 và bà Nguyễn Thị Thu H3; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 31/12/2023, tạm giam ngày 08/01/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 23 giờ 20 phút ngày 30/12/2023, Tổ công tác HP 22 Công an thành phố H thực hiện nhiệm vụ tại khu vực ngã ba nút giao thông T - H, quận L, Hải Phòng phát hiện Nguyễn Sĩ Đức L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B4-045.87 chạy tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm nên dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong cốp xe có 01 túi màu đen có quai, bên trong có 01 hộp kim loại màu xanh đen chứa 03 điếu hình trụ màu trắng đầu màu hồng dài khoảng 6,5 cm cuộn bên trong là hợp chất dạng thảo mộc khô và 01 vỏ hộp đựng kính mắt màu xanh, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa 05 điếu hình trụ màu trắng đầu màu hồng dài khoảng 6,5 cm cuộn bên trong là hợp chất dạng thảo mộc khô. Tổ công tác đã bàn giao L cùng vật chứng cho Công an phường T lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Ngoài ra, L đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 điện thoại Iphone màu đen.

Ngày 31/12/2023, Cơ quan điều tra đã đưa L đi xác định địa điểm nơi L mua ma tuý. L xác định được địa điểm là nhà số B đường Đ, quận H, Hải Phòng. Lúc này, Cơ quan điều tra phát hiện Chu Hà Thái T đang có mặt tại đây nên đưa T về trụ sở để làm việc. Tiến hành cho Nguyễn Sĩ Đức L và Chu Hà Thái T nhận dạng nhau qua bản ảnh. Kết quả L nhận dạng được T là người bán ma túy cần sa cho L và T nhận dạng được L là người đã mua ma túy cần sa của T vào tối ngày 30/12/2023.

Tại Bản kết luận giám định số 1101/KL-KTHS(MT) ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Thực vật khô, vụn gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 2,60 gam, loại: Cần sa (hoa, lá cần sa)”.

Quá trình điều tra, Nguyễn Sĩ Đức L khai nhận: do không có tiền tiêu sài nên L nảy sinh ý định mua ma tuý cần sa để bán lại kiếm lời. Khoảng 20 giờ ngày 30/12/2023, L điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B4-045.87 đi từ nhà đến 01 quán điện tử trên đường Đ, quận H, Hải Phòng hỏi mua 800.000 đồng ma túy cần sa của Chu Hà Thái T (bạn xã hội của L). T đồng ý bán và bảo L chờ ở quán điện tử. Khoảng 20 phút sau, T quay lại đưa cho L 08 điếu ma túy cần sa để bên trong 01 túi nilon màu trắng. L nhận lấy rồi đi về. Trên đường đi về, L dừng xe chia 03 điếu ma túy cần sa vào 01 hộp kim loại bỏ vào túi màu đen có quai, 05 điếu ma túy cần sa còn lại L vẫn để trong túi nilon màu trắng bỏ vào 01 vỏ hộp kính mắt. Khi L điều khiển xe đến khu vực ngã ba H - T thì bị Tổ công tác HP22 Công an thành phố H kiểm tra bắt quả tang cùng vật chứng như đã nêu trên. Chiếc điện thoại L giao nộp cho Cơ quan điều tra là của T để quên trong cốp xe môtô của L.

Chu Hà Thái T khai nhận: khoảng 20 giờ 10 phút ngày 30/12/2023, Chu Hà Thái T đến quán điện tử tại đường Đ thì gặp L. Khi L hỏi T có ma túy cần sa để bán không thì T nhớ ra H4 (bạn xã hội của T) có bán ma tuý cần sa với giá 80.000 đồng/ 01 điếu nên T bảo với L giá ma túy cần sa là 100.000 đồng/01 điếu để hưởng lãi 20.000 đồng/ 01 điếu. L đồng ý mua và đưa 800.000 đồng cho T. T gọi điện qua ứng dụng M cho H4 hỏi mua 08 điếu ma tuý cần sa và hẹn giao dịch tại khu vực cầu Quay. T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 15B4-045.87 của L đến địa điểm giao dịch đã hẹn với H4 và mua được 08 điếu ma tuý cần sa với số tiền 640.000 đồng. Lúc này, T để 01 điện thoại Iphone màu đen của T trong cốp xe mô tô của L. T cầm 08 điếu ma tuý cần sa vừa mua được rồi quay lại quán điện tử ở đường Đ đưa lại cho L. Sau đó, L bỏ đi còn T đi về nhà. Đến 17h ngày 31/12/2023, khi T đang chơi điện tử tại quán Đ đường Đ, quận H, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an triệu tập để làm việc. Số tiền 160.000 đồng có được từ việc bán ma túy cho L, T đã tiêu sài cá nhân hết. T không có số điện thoại của H4, T chỉ liên lạc với H4 qua tài khoản mạng xã hội M “H”.

Kết quả kiểm tra chi tiết điện thoại, phát hiện cuộc gọi đi đến tài khoản mạng xã hội M “H”. Kiểm tra thông tin tài khoản không phát hiện hình ảnh, thông tin cá nhân của tài khoản xã hội “H”.

Kết quả kiểm tra các chất ma tuý trong nước tiểu của Nguyễn Sĩ Đức L và Chu Hà Thái T. Kết quả âm tính với các chất ma tuý.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao bì được hoàn lại sau giám định, 01 túi màu đen có quai, 01 hộp kim loại màu xanh đen, 01 vỏ hộp đựng kính màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, 01 điện thoại Iphone màu đen.

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 15B4-045.87 tạm giữ của Nguyễn Sỹ Đức L1, quá trình điều tra đến nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Theo lời khai của bị can Chu Hà Thái T, H4 là người đã bán ma túy cần sa cho T ngày 30/12/2023, do T không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét xử lý hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSLC ngày 23/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Chu Hà Thái T, Nguyễn Sĩ Đức L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Chu Hà Thái T với mức án từ 27 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Sĩ Đức L với mức án từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Buộc bị cáo T phải nộp 160.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1101MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan, 01 túi màu đen có quai, 01 hộp kim loại màu xanh đen, 01 vỏ hộp đựng kính màu xanh và 01 túi nilon trắng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen có số Imei 354849095422277. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Chu Hà Thái T có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Sĩ Đức L 08 điếu hình trụ màu trắng, đầu màu hồng dài khoảng 6,5 cm, có khối lượng 2,60 gam loại cần sa. Bị cáo Nguyễn Sĩ Đức L có hành vi cất giấu trái phép 08 điếu ma túy cần sa đã mua của bị cáo Chu Hà Thái T mục đích bán lại kiếm lời thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác vì vậy cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng:

[5] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ:

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét vai trò của các bị cáo:

[8] Bị cáo T là người mua ma túy để bán lại cho bị cáo L và được hưởng lợi 160.000 đồng nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo L.

- Về hình phạt:

[9] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo T và khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo L để cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.

- Về việc xử lý vật chứng

[9] Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1101MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan, 01 túi màu đen có quai, 01 hộp kim loại màu xanh đen, 01 vỏ hộp đựng kính màu xanh và 01 túi nilon trắng là vật cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị.
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen có số Imei 354849095422277 do bị cáo T sử dụng để gọi điện mua ma túy.
  • + Số tiền 160.000 đồng bị cáo T được hưởng lợi khi bán ma túy cho bị cáo L do đó buộc bị cáo T phải nộp lại sung ngân sách nhà nước.

- Về án phí:

[10] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • + Chu Hà Thái T 27 (hai mươi bẩy) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2023.
  • + Nguyễn Sĩ Đức L 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2023.

- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Buộc bị cáo Chu Hà Thái T phải nộp 160.000 (một trăm sáu mươi nghìn) đồng sung ngân sách nhà nước.
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy theo niêm phong ma túy số 1101MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan, 01 túi màu đen có quai, 01 hộp kim loại màu xanh đen, 01 vỏ hộp đựng kính màu xanh và 01 túi nilon trắng.
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen có số Imei 354849095422277.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Chu Hà Thái T, Nguyễn Sĩ Đức L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Chu Hà Thái T, Nguyễn Sĩ Đức L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường Hàng Kênh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy (criminal)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T - L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger