|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2023/DS-ST
Ngày: 23/10/2023
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Minh Sơn.
2. Bà Thạch Thị Mỹ Kim.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2023/TLST- DS, ngày 30 tháng 6 năm 2023, về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2023/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-DS ngày 25/9/2023, Thông báo dời thời gian xét xử vụ án số số 183/TB-TA ngày 27/9/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1).
Địa chỉ trụ sở: Số H, L, Quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, là Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng T, là chuyên viên xử lý nợ, theo văn bản ủy quyền số 49/2021/UQ-VPB ngày 03/8/2021.
Địa chỉ liên lạc: Tầng E, Tòa nhà Báo Sài Gòn G, số D, đường C, phường A, Quận B, thành phố Cần Thơ;
- Đồng bị đơn:
1/ Ông Trần Hữu T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số D ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú cuối cùng: khóm G, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
2/ Bà La Ngọc Q, sinh năm 1985.
Địa chỉ: khóm G, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện nguyên đơn, bị đơn bà La Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày và có yêu cầu như sau: Vào ngày 25/01/2018, Ngân hàng thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q có giao kết hợp đồng tín dụng, cụ thể là hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD có nội dung Ngân hàng cho ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q vay số tiền vay gốc là 432.000.000 đồng, giải ngân vào tài khoản của khách hàng mở tại Ngân hàng. Mục đích vay là để mua xe. Thời hạn vay 72 tháng (từ ngày 25/01/2018 đến ngày 25/01/2024), lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, cố định 12 tháng đầu, sau đó điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, bắt đầu từ 25/01/2019 sẽ được điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm 24 tháng trả lãi sau bậc cao nhất của bên Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 5,5%/năm. Trả nợ gốc theo định kỳ 01 tháng/lần, số tiền nợ gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 6.000.000 đồng và trả lãi phát sinh hàng tháng. Từ ngày 19/02/2021 thì ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận với Ngân hàng. Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên thì ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là 01 chiếc Xe ô tải nhãn hiệu HINO, biển số 84C-060.26 do bà La Ngọc Q đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018 được giao kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) – chi nhánh L với ông T1, bà Q.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến nay ngày 23/10/2023 thì ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 216.000.000 đồng và lãi là 126.118.800 đồng và bị đơn đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn như đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q liên đới có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) số tiền nợ gốc và lãi còn nợ của Hợp đồng cho vay số: LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 tạm tính đến ngày 23/10/2023 là: 342.118.800 đồng (Bằng chữ: ba trăm bốn mươi hai triệu, một trăm mười tám ngàn, tám trăm đồng) và tiền lãi tính phát sinh tiếp theo tính từ ngày 24/10/2023 với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Nếu trường hợp ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu được quyền xử lý phát mãi tài sản mà ông T1, bà Q đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà La Ngọc Q trình bày như sau: Bà Q thừa nhận vào ngày 25/01/2018, Ngân hàng với ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q có giao kết hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD có nội dung Ngân hàng cho ông T1 và bà Q vay số tiền là 432.000.000 đồng. Ngân hàng đã giải ngân vào tài khoản của bà mở tại Ngân hàng. Mục đích vay là để mua xe. Thời hạn vay 72 tháng (từ ngày 25/01/2018 đến ngày 25/01/2024), lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9,9%/năm, cố định 12 tháng đầu, sau đó điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần, bắt đầu từ 25/01/2019 sẽ được điều chỉnh bằng lãi suất tiết kiệm 24 tháng trả lãi sau bậc cao nhất của bên Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 5,5%/năm. Trả nợ gốc theo định kỳ 01 tháng/lần, số tiền nợ gốc bên vay phải trả mỗi kỳ là 6.000.000 đồng và trả lãi phát sinh hàng tháng. Do làm ăn khó khăn nên từ ngày 19/02/2021 thì ông T1 và bà Q đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận với Ngân hàng.
Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên thì ông T1 và bà Q đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là 01 chiếc Xe ô tải nhãn hiệu HINO, biển số 84C-060.26 do La Ngọc Q đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà Q đồng ý cùng với ông Trần Hữu T1 liên đới có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc còn nợ của Hợp đồng cho vay số: LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 là 216.000.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu đồng) và tiền lãi phát sinh theo yêu cầu của Ngân hàng với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
Nếu trường hợp ông Trần Hữu T1 và bà Q không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Q đồng ý cho Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản mà ông T1, bà Q đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Quá trình giải quyết vụ án thì đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án nên không có lời khai.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và có ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đồng bị đơn bà La Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt; đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của nguyên đơn với đồng bị đơn bà La Ngọc Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q có ký kết hợp đồng tín dụng cụ thể là hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 với nguyên đơn, hợp đồng được lập thành văn bản và ông Trần Hữu T1 đã cung cấp địa chỉ cụ thể ghi trong hợp đồng là: Số D ấp A, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; bà La Ngọc Q đã cung cấp địa chỉ cụ thể ghi trong hợp đồng là: khóm G, phường H, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 theo địa chỉ ghi trong hợp đồng là đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Trần Hữu T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự. Căn cứ Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Theo hợp đồng tín dụng, cụ thể là Hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 kèm khế ước nhận nợ Lần: 01/Số: LN1801030422806/LAN/HĐTD Cif: 4433309 ngày 25/01/2018 thì xác định ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q với Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1) – chi nhánh L có cùng nhau ký kết hợp đồng với nhau. Theo hợp đồng, Ngân hàng đã đồng ý giải ngân cho ông T1, bà Q vay số tiền vay gốc là 432.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi hai triệu đồng). Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên thì ông T1 và bà Q đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là 01 chiếc Xe ô tải nhãn hiệu HINO, biển số 84C-060.26 do La Ngọc Q đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018.
Qua xem xét các hợp đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa các bên là tự nguyện, tại thời điểm giao kết các bên đều có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng các bên tham gia giao kết, các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên không trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp mà các bên giao kết nêu trên là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1, bà Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ lãi, nợ gốc đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở về việc yêu cầu ông, bà thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Q cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 23/10/2023 là: 342.118.800 đồng (trong đó: nợ gốc 216.000.000 đồng và nợ lãi là 126.118.800 đồng). Đồng thời yêu cầu ông T1, bà Q tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Nếu trường hợp ông T1, bà Q không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản mà ông T1, bà Q đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy các yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 292; 299; 301; 317; 319; 320; 321; 322; 323; 351, 352; 353; 357; 463; 466; 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Bị đơn bà La Ngọc Q có ý kiến thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, không có nội dung trình bày ý kiến, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đồng bị đơn ông Trần Hữu T1, bà La Ngọc Q phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 177; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 292; 299; 301; 317; 319; 320; 321; 322; 323; 351, 352; 353; 357; 463; 466; 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V (V1).
Buộc ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q cùng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V tổng số tiền vay gốc và lãi còn nợ của Hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 tạm tính đến ngày 23/10/2023 là: 342.118.800 đồng (trong đó: tiền nợ gốc là 216.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 126.118.800 đồng).
Kể từ ngày 24/10/2023 cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số LN1801030422806/LAN/HĐTD ngày 25/01/2018 nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng nêu trên các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Khi nào ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q thực hiện đúng và hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục xóa đăng ký thế chấp và hoàn trả lại cho ông T1, bà Q bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008716 do Phòng C – Công an tỉnh T cấp ngày 24/01/2018 cho bà La Ngọc Q đứng tên.
Nếu trường hợp ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V nêu trên thì thì Ngân hàng thương mại cổ phần V được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN1801030422806/LAN/HĐTCSP ngày 25/01/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm là 17.105.940 đồng (mười bảy triệu, một trăm lẻ năm ngàn, chín trăm bốn mươi đồng đồng): Buộc đồng bị đơn ông Trần Hữu T1 và bà La Ngọc Q cùng phải chịu số tiền án phí là 17.105.940 đồng (mười bảy triệu, một trăm lẻ năm ngàn, chín trăm bốn mươi đồng đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo lai thu số 0015420 ngày 12/4/2023 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp được quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ông Cao Minh Sơn Bà Thạch Thị Mỹ Kim |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Trang |
Bản án số 87/2023/DS-ST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
- Số bản án: 87/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
