|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2023/HS-ST Ngày 22 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Kim Chi; Bà Trần Thanh Phương
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Đường B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST- HS ngày 08 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2023/HSST- QĐ ngày 14 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/HSST- QĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Phùng Ngọc T - Sinh ngày 14/8/1994 tại huyện T, tỉnh Lai Châu
Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thị xã N, tỉnh Yên Bái
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Chí L và bà Phan Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: 03 tiền án. Tại bản án số: 14/2019/HS-ST ngày 12/3/2019 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại bản án số: 123/2019/HS-ST ngày 26/12/2019 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”; Tại bản án số: 49/2021/HS-ST ngày 25/5/2021 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng định khung “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 16/01/2023, Phùng Ngọc T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, ngày 08/02/2023 Phùng Ngọc T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án số: 56/2015/HSST ngày 25/4/2015 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xoá án. Tại bản án số: 28/2023/HS-ST ngày 17/5/2023 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Quyết định số: 14/QĐ/XPVPHC ngày 06/6/2014 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi vi phạm theo Điều 5 khoản 4 điểm a Luật xử lý vi phạm hành chính. Quyết định số: 12/2017/QĐ-TA ngày 24/02/2017 của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai quyết định áp dụng biện xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/2/2023. Hiện đang cải tạo tại trại giam H1 (Xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái). “Có mặt”
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1 - Nơi cư trú: Tổ B, phường S, thị xã S, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/02/2023, Phùng Ngọc T đi bộ một mình để tìm phòng trọ quanh khu vực phường K. Khi đi đến trước cửa số nhà C đường N, tổ A, phường K thì phát hiện thấy một dãy trọ bên trong nên Phùng Ngọc T đi vào trong xem phòng trọ, khi đi qua phòng trọ số 17 thì Phùng Ngọc T thấy khóa cửa phòng lung lay, không chắc chắn Phùng Ngọc T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phùng Ngọc T quan sát xung quanh không có ai trông coi nên bắt đầu dùng tay phải cầm vào ổ khóa lắc sang hai bên khoảng 1 phút thì khóa cửa bung ra, Phùng Ngọc T đẩy cửa phòng trọ đi vào bên trong và nhìn thấy trên mặt bàn học được kê giữa hai chiếc giường có 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung màu trắng và 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Vostro mầu bạc, Phùng Ngọc T tiến lại gần rồi dùng tay phải cầm chiếc máy tính bảng đặt lên chiếc laptop, dùng hai tay bê lên và đi ra cửa thì phát hiện ở đầu giường ngủ bên ngoài sát cửa sổ có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy4 màu xanh, Phùng Ngọc T dùng tay phải cầm chiếc điện thoại đặt lên trên máy tính bảng thì phát hiện trên móc treo quần áo phía sát cửa ra vào có để 01 chiếc ví da màu nâu nên Phùng Ngọc T đặt số tài sản trên xuống đất rồi dùng tay phải lấy chiếc ví mở kiểm tra thấy bên trong có 700.000 đồng cùng một số giấy tờ thì T cất luôn chiếc ví vào túi quần phía sau T đang mặc. Sau đó, Phùng Ngọc T bê số tài sản vừa trộm cắp được ra ngoài và bắt xe ôm đi về khu vực đường H, phường C, thành phố L. Trên đường đi Phùng Ngọc T nói muốn bán máy tính và điện thoại vì đang không có tiền thì người lái xe ôm đã đồng ý mua của Phùng Ngọc T 01 chiếc điện thoại, 01 chiếc máy tính bảng và 01 chiếc laptop với giá 1.700.000 đồng. Sau đó, Phùng Ngọc T bảo người lái xe ôm chở về địa chỉ số nhà E đường H, tổ B phường C, thành phố L. Tại đây, Phùng Ngọc T mượn xe điện của anh Đỗ Minh T2 (Sinh năm 1992, Nơi thường trú: tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) để đi chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Phùng Ngọc T quay về địa chỉ E đường H, tổ B phường C, thành phố L thì thấy có lực lượng công an đến kiểm tra. Do hoảng sợ nên Phùng Ngọc T đã bỏ chạy để lại xe điện và chiếc ví cùng số giấy tờ của anh Nguyễn Văn T1 đã trộm cắp được trước đó trong cốp xe.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG ngày 29/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 01 (một) máy tính bảng nhãn hiệu S E, màu trắng (đã qua sử dụng), giá trị tài sản là: 1.650.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy4, màu xanh (đã qua sử dụng), giá trị tài sản là: 1.350.000 đồng; 01 laptop nhãn hiệu Dell Vostro 5586, màu bạc (đã qua sử dụng), giá trị tài sản là: 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 6.000.000 đồng. Đối với chiếc ví da màu nâu nhãn hiệu H2 Leather đã qua sử dụng từ năm 2007, Hội đồng định giá tài sản từ chối định giá tài sản lý do: Tài sản yêu cầu định giá đã hết giá trị tính khấu hao theo quy định
Cáo trạng số: 63/CT-VKS ngày 07/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố các bị cáo Phùng Ngọc T về tội "Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điển g khoản 2 điều 173; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Phùng Ngọc T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước của Phùng Ngọc T số tiền 2.400.000 đồng do phạm tội mà có. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 08/02/2023, Phùng Ngọc T khi đi qua phòng trọ số 17 số nhà C đường N, tổ A, phường K là phòng trọ của anh Nguyễn Văn T1, Phùng Ngọc T thấy khóa cửa phòng lung lay, không chắc chắn. Phùng Ngọc T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Phùng Ngọc T quan sát xung quanh không có ai trông coi nên bắt đầu dùng tay phải cầm vào ổ khóa lắc sang hai bên một lúc thì khóa cửa bung ra Phùng Ngọc T vào phòng trọ trộm cắp được 01 máy tính bảng nhãn hiệu Samsung màu trắng, 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Vostro mầu bạc, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Joy4 màu xanh, 01 chiếc ví da màu nâu bên trong có 700.000 đồng cùng một số giấy tờ của anh T1. Sau đó bắt xe ôm đi về khu vực đường H, phường C, thành phố L. Quá trình đi trên bán cho người lái xe ôm 01 chiếc điện thoại, 01 chiếc máy tính bảng và 01 chiếc laptop với giá 1.700.000 đồng. Sau đó, Phùng Ngọc T về địa chỉ số nhà E đường H, tổ B phường C, thành phố L. Tại đây, Phùng Ngọc T mượn xe điện của anh Đỗ Minh T2 (Sinh năm 1992, Nơi thường trú: tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) để đi chơi. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Phùng Ngọc T quay về địa chỉ E đường H, tổ B phường C, thành phố L thì thấy có lực lượng công an đến kiểm tra. Do hoảng sợ nên Phùng Ngọc T đã bỏ chạy để lại xe điện và chiếc ví cùng số giấy tờ của anh Nguyễn Văn T1 đã trộm cắp được trước đó trong cốp xe.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Ngày 08/02/2023 tại tổ A, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai bị cáo Phùng Ngọc T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy tính bảng nhãn hiệu S, màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy4, màu xanh; 01 laptop nhãn hiệu Dell Vostro 5586, màu bạc; 01 chiếc ví da màu nâu nhãn hiệu H2 Leather bên trong có 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn T1; 01 thẻ đảng viên mang tên Nguyễn Văn T1; 01 đăng ký xe mang Biển kiểm soát: 24B1-0760; 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T1; 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thùy P và 700.000 đồng tiền Ngân hàng N. Tổng trị giá tài sản mà Phùng Ngọc T đã trộm cắp là: 6.700.000 đồng. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số: 49/2021/HS-ST ngày 25/5/2021 Phùng Ngọc T bị Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Ngày 16/01/2023, Phùng Ngọc T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, ngày 08/02/2023 Phùng Ngọc T tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích vì vậy lần phạm tội này của Phùng Ngọc T phải chịu tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu đã 04 lần bị Tòa án kết án vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo có ông bà ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, các bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, không có thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường
[7] Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn T1 01 chiếc ví da màu nâu nhãn hiệu H2 Leather, 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn T1; 01 thẻ đảng viên mang tên Nguyễn Văn T1; 01 đăng ký xe mang Biển kiểm soát: 24B1-0760; 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T1; 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thùy P.
Đối với số tiền trộm cắp 700.000 đồng và số tiền 1.700.000 đồng bị cáo bán máy tính bảng, điện thoại, laptop cần truy thu sung váo ngân sách nhà nước.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 điều 173; Điểm h, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phùng Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bị cáo Phùng Ngọc T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/2/2023
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Truy thu sung vào ngân sách nhà nước của Phùng Ngọc T số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phùng Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
Bản án số 87/2023/HS-ST ngày 22/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 87/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
