|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 87/2023/HSST Ngày: 21-8-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phan Thị Anh Thư – Bí thư huyện Đoàn Gò Dầu.
- Bà Nguyễn Thị Hiệp – Trưởng phòng Lao động thương binh xã hội huyện Gò Dầu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Lê Tấn V, sinh ngày 13/6/2006, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê G và bà Trịnh Thị H; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
- Nguyễn Trần T, sinh ngày 02/10/2005, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Trung N và bà Trần Thị H1; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
- Nguyễn Thành L, sinh ngày 05/8/2004, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị Ngọc T1; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
- Nguyễn Minh N1, sinh ngày 25/12/2004, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T2; Vợ con chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo V là ông Lê G, sinh năm: 1982 và bà Trịnh Thị H, sinh năm: 1985. Địa chỉ: ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo V là Luật sư Trần Minh T3, thực hiện trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo T là ông Nguyễn Trung N, sinh năm: 1981 và bà Trần Thị H1, sinh năm: 1979. Địa chỉ: ấp B, xã P, T, tỉnh Tây Ninh. (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo T là bà Trần Thị Cẩm V1, trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 07/11/2022, sau khi nhậu xong, bị cáo Lê Tấn V, sinh ngày 13/6/2006, ngụ ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, xem điện thoại thấy Nguyễn Phạm Anh D, sinh năm 2004, ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đăng ảnh trên mạng xã hội Facebook nên bấm nút “Like” nhiều lần. D nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho V hỏi việc “Like” đểu nên xảy ra cãi nhau, thách thức hẹn đánh nhau tại cầu G thuộc khu phố N, thị trấn G, huyện G. Lúc này, bị cáo V rủ bị cáo Nguyễn Trần T, sinh ngày 02/10/2005, ngụ ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; bị cáo Nguyễn Minh N1, sinh ngày 25/12/2004, ngụ ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh và bị cáo Nguyễn Thành L, sinh ngày 05/8/2004, ngụ ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh đi đánh nhóm của D thì tất cả đồng ý. Bị cáo V mượn xe môtô biển số 70L1-731.79 của anh Phạm Anh N2, sinh năm 2004, ngụ ấp B, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, nói là đi công chuyện, rồi điều khiển xe chở bị cáo L cùng với bị cáo T điều khiển xe môtô chở bị cáo N1 đến nhà của bị cáo V lấy 03 cây dao tự chế, rồi cùng nhau điều khiển xe đến điểm hẹn; còn anh N2 say rượu nên đi về ngủ. Khi đó, D nhắn tin qua ứng dụng Messenger rủ Lê Nhật N3, sinh năm 2003; Nguyễn Anh T4, sinh ngày 24/8/2006; Nguyễn Văn B, sinh ngày 07/4/2005 và Nguyễn Lâm Anh D1, sinh ngày 29/8/2006, cùng ngụ khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh, đi đánh nhóm của bị cáo V thì tất cả đồng ý. N3 mang theo 01 cây rựa bằng kim loại, rồi tất cả điều khiển 03 xe môtô đi đến cầu G.
Đến khoảng 02 giờ ngày 08/11/2022, khi đến cầu G, N3 cầm cây rựa bằng kim loại, cán dài 20cm, lưỡi dài 25cm, cùng với D, B, T4 và D1 mỗi người cầm nón bảo hiểm, chạy bộ lên cầu G đuổi đánh nhóm của bị cáo V. Do thấy nhóm của D đông người và có cầm hung khí nên bị cáo T điều khiển xe chở bị cáo N1 cầm cây dao bằng kim loại, cán dao hình ống tròn dài 01m, đường kính ống 02cm, chạy thẳng đến vòng xoay G, còn bị cáo V dừng xe lại thì bị cáo L cầm cây dao bằng kim loại, cán dao hình ống tròn dài 01m, đường kính ống 03cm và đưa cho Vĩ 01 cây dao bằng kim loại, cán dao hình ống tròn dài 01m, đường kính ống 03cm, rồi cùng nhau bỏ chạy, bỏ lại xe môtô biển số 70L1-731.79. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe chở bị cáo N1 quay lại chở bị cáo V và bị cáo L đi về. Do đánh nhóm của bị cáo V không được nên nhóm của D quay lại lấy xe chuẩn bị đi về. Lúc này, do thấy xe môtô biển số 70L1-731.79 của bị cáo V bỏ lại nên D cầm nón bảo hiểm đập làm hư hỏng phần đuôi xe, N3 cầm cây rựa chém làm hư hỏng phần mặt nạ, đồng hồ, yếm chắn gió và cung chắn bùn xe, tổng thiệt hại là 5.855.000 đồng, rồi cả nhóm đi về.
Quá trình điều tra, các bị cáo V, T, L và N1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Hiện đang tạm giữ 03 cây dao tự chế bằng kim loại và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng, là của V giao nộp.
Tại bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSGD ngày 18 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại khoản 6 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng cũng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 98; Điều 100 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt mỗi bị cáo Lê Tấn V, Nguyễn Trần T và Nguyễn Minh N1 mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo V và bị cáo T trình bày: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo V đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ răng đe giáo dục bị cáo V.
Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo T cũng đủ sức răng đe giáo dục bị cáo T.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thực hiện: Khoảng 02 giờ ngày 08/11/2022, tại khu vực đầu cầu G thuộc thị trấn G, huyện G, do mâu thuẫn nhỏ, nên bị cáo Lê Tấn V rủ các bị cáo Nguyễn Trần T, Nguyễn Thành L và Nguyễn Minh N1 chuẩn bị 03 cây dao tự chế bằng kim loại, rồi cùng nhau đi đánh nhau với Nguyễn Phạm Anh D, Lê Nhật N3, Nguyễn Văn B, Nguyễn Anh T4 và Nguyễn Lâm Anh D1, nhưng do thấy nhóm của D đông người và có cầm hung khí nên nhóm của bị cáo V bỏ chạy, bỏ lại tại hiện trường xe môtô biển số 70L1-731.79 của anh Phạm Anh N2 thì bị D cầm nón bảo hiểm và N3 cầm cây rựa đập phá làm hư hỏng xe, trị giá 5.855.000 đồng. Do đó hành vi của các bị cáo Lê Tấn V, Nguyễn Trần t, Nguyễn Minh N4 và Nguyễn Thành L có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 6 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần phải xử các bị cáo mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
[5] Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
[6] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Bị cáo V là người rủ rê lôi kéo các bị cáo khác cùng nhau phạm tội nên bị cáo V phải chịu mức án cao hơn so với bị cáo khác, tuy nhiên thời điểm phạm tội bị cáo V là người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội nên xử phạt bị cáo mức án bằng ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định; thời điểm phạm tội các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rỏ ràng nên xử phạt mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ răng đe giáo dục các bị cáo.
[7] Quan nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như xét hỏi tại phiên tòa thì thấy các bị cáo không có tài sản và không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo là có căn cứ.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[9] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vật chứng vụ án:
Đối với: 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán dao hình ống tròn dài 1m, đường kính ống 2cm, lưỡi dao bầu loại cạnh sắc, trên lưỡi dao có 04 lỗ hình tròn đường kính 1cm, dao đã qua sử dụng và 02 con dao tự chế kim loại, cán dao hình ống tròn dài 1m, đường kính ống 3cm, lưỡi dao thẳng loại 01 cạnh sắc, cạnh không sắc được uốn cong về phía cán dao, dao đã qua sử dụng là vật chứng không giá trị nên tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11, màu trắng, số sim 0819395526, số Imei 350293726963272, đã qua sử dụng do bị cáo V dùng liên lạc để đánh nhau nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Đối với Nguyễn Phạm Anh D, Lê Nhật N3, Nguyễn Văn B, Nguyễn Anh T4 và Nguyễn Lâm D1 có hành vi chuẩn bị hung khí nguy hiểm là cây rựa bằng kim loại và nón bảo hiểm để đi đánh nhau với nhóm của bị cáo V và hành vi đập hư hỏng tài sản có giá trị 5.855.000 đồng, Cơ quan điều tra đã khởi tố xử lý trong vụ án khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Tuấn V2, Nguyễn Trần T, Nguyễn Thành L và Nguyễn Minh N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Lê Tuấn V2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
- Nguyễn Trần Tam 0 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
- Nguyễn Minh N1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
- Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 98; Điều 100 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt các bị cáo:
Căn cứ khoản 6 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của mỗi bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh nhận được Quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Lê Tuấn V2, Nguyễn Tần T5, Nguyễn Thành L, Nguyễn Minh N1 cho Ủy ban nhân dân xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục.
Trường hợp các bị cáo Lê Tuấn V2, Nguyễn Tần T5, Nguyễn Thành L, Nguyễn Minh N1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế bằng kim loại, cán dao hình ống tròn dài 1m, đường kính ống 2cm, lưỡi dao bầu loại cạnh sắc, trên lưỡi dao có 04 lỗ hình tròn đường kính 1cm, dao đã qua sử dụng và 02 con dao tự chế kim loại, cán dao hình ống tròn dài 1m, đường kính ống 3cm, lưỡi dao thẳng loại 01 cạnh sắc, cạnh không sắc được uốn cong về phía cán dao, dao đã qua sử dụng;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 11, màu trắng, số sim 0819395526, số Imei 350293726963272, đã qua sử dụng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 87/2023/HSST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 87/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
