Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2

THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 86/2025/ HS – ST

Ngày: 29 – 12- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thùy Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Hải

Ông Lê Đức Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Lê Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Khánh L, sinh ngày 14/4/2002, tại: phường T, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trịnh Anh S và bà Phạm Thị H; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Trạm tạm giam số 1- Công an tỉnh T từ ngày 28/6/2025 đến nay. (Có mặt)

- Bị hại:

  • + Ông Trịnh Văn Đ, sinh năm 1974; Trú tại: TDP C, phường T, tỉnh Thái Nguyên; (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1996; Trú tại: TDP C, phường T, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Phạm Thị H, sinh năm 1958; Trú tại: TDP C, phường T, tỉnh Thái Nguyên; (Có mặt)
  • + Anh Trần Hiển T, sinh năm 1998; Trú tại: TDP T, phường P, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Anh Trần Quốc T1, sinh năm 2002; Trú tại: TDP T, phường T, tỉnh Thái Nguyên; (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Anh Hoàng Đình T2, sinh năm 1994; Trú tại: TDP Q, phường V, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án thứ nhất: Vào sáng ngày 08/6/2025, Trịnh Khánh L và mẹ đẻ là bà Phạm Thị H (sinh năm 1958) đều trú tại tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên, sang nhà anh họ của L là anh Trịnh Văn Đ (sinh năm 1974) tại tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên để hỏi vay anh Đ số tiền 2.000.000 đồng thì được anh Đ đồng ý cho L vay. Do anh Đ không có tiền mặt nên L và anh Đ đi lên cây ATM của ngân hàng V ở cổng Công ty M2 thuộc tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường V, tỉnh Thái Nguyên) để rút tiền. Khi đến nơi, L ngồi trên xe còn anh Đ vào cây rút tiền nhưng không rút được nên anh Đ gọi L vào giúp thì rút được 2.000.000 đồng cho L vay. Toàn bộ quá trình nhập mật khẩu đều do anh Đăng tự nhập, còn L đứng bên cạnh nhìn thấy mật khẩu là 136874. Sau đó, L đi về hướng phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên) còn anh Đ đi về. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, L đi bộ đến nhà anh Đ thì gặp anh Đ đang ngủ một mình ở nhà, còn chiếc ví để ở đôn đầu bàn uống nước trong nhà. Thấy vậy, L nảy sinh ý định lấy trộm chiếc thẻ ATM ngân hàng BIDV của anh Đ đang để trong ví và mang đi rút tiền. Sau đó, L lén lút mở ví của anh Đ ra lấy chiếc thẻ ATM trên rồi đi về nhà lấy xe máy của mẹ L đi đến cây ATM ở cổng Công ty M2. Khi đến nơi, L dùng thẻ ATM của anh Đ và nhập mật khẩu là 136874 rồi ấn rút số tiền 3.000.000 đồng 5 lần liên tiếp, được tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Sau đó, L nhận lại thẻ ATM cùng số tiền rút được mang về nhà. Khi về, L giấu chiếc thẻ ATM dưới đầu giường ngủ của L. Số tiền 15.000.000 đồng được L sử dụng như sau: L đến quán Internet của anh Trần Hiển T (sinh năm 1998) ở khu dân cư L, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường P, tỉnh Thái Nguyên) để trả nợ cho anh T số tiền 10.000.000 đồng rồi lấy 02 chiếc xe mô tô về gồm một chiếc xe mô tô Honda Airblade trả lại cho chị Nguyễn Thị Phương A (sinh năm 2002; trú tại tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên) là bạn của L và một chiếc xe mô tô Honda Wave trả lại cho chị Nguyễn Thị Như M (sinh năm 2002; trú tại tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Thái Nguyên) là người yêu của L (do trước đó L đã mượn hai chiếc xe mô tô này của chị Phương A và chị M làm tài sản đảm bảo để vay của anh T số tiền 10.000.000 đồng); L đến quán điện thoại của anh Hoàng Đình T2 (sinh năm 1994) thuộc tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường V, tỉnh Thái Nguyên) sử dụng số tiền 1.600.000 đồng để mua lại chiếc điện thoại di động IPhone 11 Promax màu vàng mà L đã bán cho anh T2 vào ngày 07/8/2025 với giá 1.500.000 đồng; L trả nợ cho chị Phương A số tiền 1.600.000 đồng vay từ trước; Còn lại số tiền 1.800.000 đồng L đã chi tiêu cho ăn uống, đi lại sinh hoạt cá nhân hết. Đến ngày 09/6/2025, anh Trịnh Văn Đ phát hiện bị mất thẻ ATM và kiểm tra điện thoại thấy mất tiền trong tài khoản ngân hàng nên đã đến Công an phường T, tỉnh Thái Nguyên để trình báo sự việc.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Khánh L đã khai nhận toàn bộ sự việc nêu trên và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax màu vàng của L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S màu trắng của L; 01 chiếc thẻ ngân hàng B1 số 9704187000000207624 tên TRINH VAN DANG; Số tiền 15.000.000 đồng do L tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho anh Đ.

Vụ án thứ hai: Ngày 18/7/2025, trong quá trình làm việc tại Trại tạm giam số 1- Công an tỉnh T, Cơ quan điều tra đã tiếp nhận đơn xin tự thú của Trịnh Khánh L về việc trong hai ngày 21/6/2025 và 27/6/2025 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào trưa ngày 21/6/2025, Trịnh Khánh L đi bộ ra cổng nhà mình ở tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên cũ (nay là phường T, tỉnh Thái Nguyên), thì thấy hàng xóm là anh Nguyễn Hùng C (sinh năm 1996) lên xe đi ra khỏi nhà, L thấy cánh cổng sắt nhà anh C chỉ cài, không khóa. Thấy vậy, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản rồi L mở cổng vào nhà anh C. Khi đi đến phòng ngủ đầu tiên thì L thấy chỉ cài cửa, không khóa. L mở cửa ra, thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động IPhone 11 ProMax màu vàng có ốp bằng nhựa màu đen, sau ốp có chữ Trung Quốc và 01 chiếc vòng đeo tay kim loại màu vàng, trên vòng có khắc chữ “Thiên Mộc C1” để trên tấm xốp dưới sàn nhà, dưới đầu giường ngủ. L lấy hai tài sản này cầm trên tay, cài lại cửa phòng và cổng nhà anh C như cũ rồi đi thẳng về nhà. Khi về đến nhà, L giấu chiếc vòng vàng và vỏ ốp của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 ProMax dưới gốc chuối, đằng sau cũi chó của gia đình, còn chiếc điện thoại di động IPhone 11 ProMax màu vàng L dùng hai ngày sau thì mang đi bán cho anh Hoàng Đình T2 với giá 2.400.000 đồng. Số tiền này L dùng để ăn uống và trả nợ hết. (Sau khi mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 ProMax màu vàng từ L thì anh T2 đã bán lại cho một người không quen biết với giá 2.500.000 đồng.

Đến khoảng 03 giờ 30 phút rạng sáng ngày 27/6/2025, do có ý định trộm cắp tài sản, Trịnh Khánh L đi ra cổng nhà mình, rồi đóng cầu giao điện vào nhà anh C nhằm ngắt camera theo dõi của nhà anh C để L có điều kiện đột nhập. Sau đó, L đi qua sân nhà chị gái ruột của L là chị Trịnh Thúy L1 (sinh năm 1982; trú tại tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên) để trèo qua bờ tường, nhảy xuống sân vườn nhà anh C. Lúc này anh C đang ngủ ở phòng ngủ, L đi sang căn phòng thứ hai (là phòng anh C dùng để livestream và thờ cúng) đang đóng cửa nhưng không khóa. L mở cửa vào phòng thì thấy có 01 chiếc điện thoại di động IPhone 16 Pro Max Titan Sa Mạc đang để trên cây livestream nhãn hiệu Gocheck, L đã lấy cả chiếc điện thoại và cây livestream, rồi quay ra đóng lại cửa phòng như cũ. Sau đó lại trèo tường qua nhà chị L1 rồi đi về nhà. Sau khi lấy trộm được tài sản, L giấu chiếc gậy livestream nhãn hiệu Gocheck dưới gầm giường ngủ của mình, còn chiếc điện thoại lấy được thì đến trưa ngày 27/6/2025, L mang lên cửa hàng điện thoại của anh Trần Quốc T1 (sinh năm 2002) ở tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường T, tỉnh Thái Nguyên) bán được 25.500.000 đồng, số tiền này L dùng để mua một chiếc điện thoại di động IPhone 14 ProMax màu tím của anh Trần Quốc T1 với giá 17.900.000 đồng, số tiền còn lại 7.600.000 đồng L dùng để trả nợ và chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết.

Ngày 19/7/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Khánh L thuộc tổ dân phố C, phường T, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả đã thu giữ được: 01 chiếc gậy có thể kéo dài hoặc thu gọn, bên ngoài bằng nhựa, hình trụ tròn đường kính 4 cm, màu đen, trên gậy có chữ GoCheck, đầu gậy là giá treo điện thoại (thường gọi là gậy để livestream); 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, trên ốp có chữ nước ngoài; 01 vòng tròn bằng kim loại màu vàng, trên vòng có khắc chữ “Thiên Mộc C1” (niêm phong ký hiệu V gửi giám định).

Tại bản Kết luận giám định số 5531/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của V1 Bộ C2 kết luận: “01 (một) vòng kim loại màu vàng, trên vòng có khắc chữ "Thiên Mộc C1" đựng trong phong bì ký hiệu V gửi giám định có khối lượng 37,47 gam là vàng (Au), hàm lượng Au: 99,88%".

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 1919/KL-HĐĐG ngày 19/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh T, kết luận: “01 (một) vòng tay tròn trơn, trên vòng có khắc chữ "Thiên Mộc C1", có khối lượng 37,47 gam là vàng (Au), hàm lượng Au là 99,88%, trị giá: 108.333.000 đồng; 01 (một) Điện thoại IPhone 11, Pro Max, 64GB, màu vàng, đã qua sử dụng, trị giá 3.233.000 đồng; 01 (một) Điện thoại IPhone 16, Pro Max, 256GB, Titan S, đã qua sử dụng trị giá 25.833.000 đồng; 01 (một) Gậy chụp ảnh (livestream) tripod/selfi bluetooth, nhãn hiệu Gochek, bên ngoài bằng nhựa, hình trụ tròn, đường kính 4cm, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 365.000 đồng”.

Tại Cơ quan điều tra, Trịnh Khánh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, L khai trước khi bị Cơ quan điều tra phát hiện hành vi phạm tội, L đã đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 14 Pro Max màu tím trên cho mẹ đẻ là bà Phạm Thị Hồng G. Bà H khai sau đó đã đưa lại cho chị Nguyễn Thị Như M. Chị M khai đã mang chiếc điện thoại này đi bán cho một người không quen biết để lấy tiền trả nợ cho L. Còn anh Trần Quốc T1 khai sau khi mua được chiếc điện thoại di động IPhone 16 ProMax Titan Sa Mạc của L, đến ngày 28/6/2025 anh T1 đã bán lại máy cho một khách hàng không quen biết với giá 26.600.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 chiếc gậy có thể kéo dài hoặc thu gọn, bên ngoài bằng nhựa, hình trụ tròn đường kính 4 cm, màu đen, trên gậy có chữ GoCheck, đầu gậy là giá treo điện thoại (thường gọi là gậy để livestream); 01 ốp điện thoại bằng nhựa màu đen, trên ốp có chữ nước ngoài; 01 vòng tròn bằng kim loại màu vàng, trên vòng có khắc chữ “Thiên Mộc C1”, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Hùng C, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh C quản lý, sử dụng.
  • - 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 02 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc thẻ ngân hàng B1 số 9704187000000207624 mang tên TRINH VAN DANG và 15.000.000 đồng tiền ngân hàng N được chuyển đến chuyển đến kho vật chứng và tài khoản của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Thái Nguyên chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án thứ nhất, Trịnh Khánh L đã tự nguyện giao nộp số tiền 15.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để bồi thường thiệt hại cho anh Trịnh Văn Đ. Trong vụ án thứ hai, L đã nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Hùng C số tiền 29.066.000 đồng, anh C đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Trịnh Khánh L.

Tại bản cáo trạng số 12/CT - VKS ngày 10/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trịnh Khánh L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Khánh L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản ".

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 290, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 173, điều b,s,r khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 04 (Bốn) năm đến 04 (Bốn) năm 06 (tháng) tù về tội “trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Trịnh Khánh L chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 05 (năm) năm đến 05 (Năm) năm 09 (chín) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh C đã nhận được tiền bồi thường, nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 15.000.000 đồng đến Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên để bồi thường cho anh Đ. Tại phiên tòa anh Đ không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 02 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S màu trắng;

Trả lại cho anh Đ 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc thẻ ngân hàng B1 số 9704187000000207624 mang tên TRINH VAN DANG.

Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Khánh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đến nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Trịnh Khánh L đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định:

Vụ án thứ nhất: Ngày 08/6/2025 tại tổ dân phố V, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường V, tỉnh Thái Nguyên), Trịnh Khánh L đã có hành vi sử dụng chiếc thẻ ATM ngân hàng B1 của anh Trịnh Văn Đ đăng nhập cây ATM, xâm phạm hoạt động bình thường của phương tiện điện tử để chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng B1 của anh Đ. Hành vi nêu trên của Trịnh Khánh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự.

Vụ án thứ hai: Vào trưa ngày 21/6/2025 tại nhà anh Nguyễn Hùng C thuộc tổ dân phố C, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường T, tỉnh Thái Nguyên) Trịnh Khánh L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động IPhone 11 ProMax màu vàng và 01 chiếc vòng đeo tay kim loại màu vàng, trên vòng có khắc chữ “Thiên Mộc C1” có tổng trị giá 111.566.000 đồng của anh C. Đến khoảng 03 giờ 30 phút rạng sáng ngày 27/6/2025, cũng tại nhà anh C, L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động IPhone 16 ProMax Titan Sa Mạc và 01 chiếc gậy livestream nhãn hiệu Gocheck có tổng trị giá 26.198.000 đồng của anh C. Hành vi nêu trên của Trịnh Khánh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tội phạm và hình phạt được quy định cụ thể như sau:

Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.

“1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ...”

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”

Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Thái Nguyên truy tố bị cáo về các tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, đồng thời xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực sử dụng phương tiện điện tử, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

3.2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo được sinh ra và lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 12/12. Thời điểm phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện, tác động gia đình và nhờ gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho các bị hại; các bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với tội trộm cắp tài sản, sau khi thực hiện hành vi, bị cáo đã ra tự thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, do đó phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, đồng thời xâm phạm trật tự quản lý trong lĩnh vực sử dụng phương tiện điện tử, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Mặc dù bị cáo còn trẻ, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng đã không tu dưỡng, rèn luyện bản thân, ham chơi, coi thường pháp luật, dẫn đến việc thực hiện các hành vi phạm tội nêu trên. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Xét đề nghị về hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt đề nghị đối với tội “Trộm cắp tài sản” là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Đối với tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án:

Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 02 chiếc điện thoại gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S màu trắng thu giữ của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Đ 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc thẻ ngân hàng B1 số 9704187000000207624 mang tên TRINH VAN DANG.

[7].Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và anh C đã thực hiện việc bồi thường xong, nay không có yêu cầu gì nên Hội đồng không xem xét giải quyết.

Bị cáo thấy hành vi của mình đã gây thiệt hại cho cho anh Đ nên đã tự nguyện tác động đến gia đình, người thân bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Đ số tiền 15.000.000 đồng nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên do vậy Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận sự tự nguyện bồi thường này. Anh Trịnh Văn Đ sẽ được sở hữu số tiền trên.

Nay các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với bà Phạm Thị H là người đã bồi thường thay cho bị cáo, nay không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí: Bị cáo Trịnh Khánh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[10]. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trịnh Khánh L 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

[11]. Các vấn đề khác: Trong vụ án này, ngày 06/6/2025 và ngày 07/6/2025, Trịnh Khánh L đã mượn xe mô tô của chị Nguyễn Thị Phương A và chị Nguyễn Thị Như M mang đi làm tài sản đảm bảo, để vay của Trần Hiến T3 số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, L không có ý định chiếm đoạt tài sản này, đến ngày 08/6/2025, L đã mang cả hai phương tiện trên trả lại cho chị Phương A và chị M. Do đó, hành vi của L không đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” hay tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Ngoài ra, đối với anh Hoàng Đình T2 và Trần Quốc T1 là hai người mua lại điện thoại L trộm cắp được, tuy nhiên cả anh T2 và anh T1 đều không biết đây là tài sản L trộm cắp được. Bà Phạm Thị H là mẹ đẻ của L cùng chị Nguyễn Thị Như M là bạn gái của L đã giữ chiếc điện thoại IPhone 14 Pro Max, màu tím mà L đưa cho, rồi mang đi bán lấy tiền trả nợ cho L, cả hai đều không biết đây là tài sản do L phạm tội mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Hoàng Đình T2, anh Trần Quốc T1, bà Phạm Thị H và chị Nguyễn Thị Như M là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Khánh L phạm tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Khánh L 10 (M1) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”;

    Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r,b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trịnh Khánh L 04 (B) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự 2015. Buộc bị cáo Trịnh Khánh L chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (Bốn) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2025.

    Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hùng C đã được bồi thường số tiền 29.066.000 đồng. Nay anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với anh Trịnh Văn Đ số tiền 15.000.000 đồng. Anh Trịnh Văn Đ được sở hữu số tiền 15.000.000 (Số tiền đang được gửi tại tài khoản của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên, mở tại kho bạc Nhà nước khu vực VII - Phòng Kế toán nhà nước theo uỷ nhiệm chi số 497 ngày 14/11/2025).

  4. Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trịnh Khánh L 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.
  5. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn dấu đỏ ký hiệu A1 bên trong có 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 11 Promax màu vàng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 6S màu trắng.
    • -Trả lại cho anh Đ 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn dấu đỏ ký hiệu A2 bên trong có 01 chiếc thẻ ngân hàng B1 số 9704187000000207624 mang tên TRINH VAN DANG.
    • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2025 giữa Công an tỉnh T và Phòng thi hành án khu vực 2- Thái Nguyên).
  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trịnh Khánh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Án xử công khai, báo cho bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định đối với những người vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND khu vực 2 -Thái Nguyên;
  • -Công an Tỉnh Thái Nguyên.
  • -Bị cáo; các bị hại; Người có QLNVLQ
  • - UBND phường Trung Thành, tỉnh Thái Nguyên;(kèm TB Kq XX);
  • - THA h.sự, d.sự;
  • - Lưu:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thuỳ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 86/2025/HS – ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm: tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 86/2025/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm: Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và Tội trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Khánh Linh phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger