|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HSST Ngày 22-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Phúc
2. Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Công D (Bờm); sinh ngày 10 tháng 10 năm 2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Hồng T1; chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28-6-2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: sau khi tan ca làm việc khu công nghiệp P khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Trần Công D và Ngô Vũ H cùng nhau đi ăn uống; D rủ H về khu vực huyện B, tỉnh Tây Ninh để sử dụng ma túy, thì H đồng ý. D điều khiển xe môtô biển số 70C1-308.70 chở H đến khu phố C, thị trấn B, huyện B tìm gặp người phụ nữ tên T2 (Không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy. Sau đó D chở H đến quán cà phê “Hội Tụ” thuộc khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do bà Nguyễn Thị B làm chủ, D và H vào chòi thứ 5. Tại đây, D dùng bật lửa, kéo và đoạn ống thủy tinh (tẩu) do D mang theo cùng với chai nước suối vừa mua làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. D đổ ma túy vừa mua vào ụ tròn của ống thủy tinh rồi dùng bật lửa đun nóng ma túy lên D và H sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, D và H tiếp tục sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang. Tiến hành kiểm tra nồng độ chất ma túy trong cơ thể đối với Trần Công D, Ngô Vũ H cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 1313/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0597 gam, đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Tại Bản cáo trạng số: 80/CT-VKS-BC ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố bị cáo Trần Công D (Bờm) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Công D (Bờm) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Công D (Bờm) từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận; bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Sau khi tan ca làm việc khu công nghiệp P khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, D và H cùng nhau đi ăn uống; D rủ H về khu vực huyện B, tỉnh Tây Ninh để sử dụng ma túy, thì H đồng ý. D điều khiển xe môtô biển số 70C1-308.70 chở H đến khu phố C, thị trấn B, huyện B gặp người phụ nữ tên T2 (Không rõ lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy; sau đó, D chở H đến quán cà phê “Hội Tụ” thuộc khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh do bà B làm chủ. Tại đây, D lấy ma túy ra sử dụng rồi đưa H sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, D và H tiếp tục sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang. Tại Kết luận giám định số 1313/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: mẫu chất tinh thể rắn (kí hiệu M) bên trong 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt có một đầu là ụ tròn gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0597 gam, đã sử dụng hết trong công tác giám định.
Như vậy, bị cáo là người rũ và đưa ma túy cho H sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt
được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ. Đúng pháp luật.
[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo biết việc tổ chức sử dụng ma túy nhà nước cấm, nhưng bị cáo rủ người khác tham gia sử dụng, thể hiện tính xem thường pháp luật; gây mất trật tự trị an tại địa phương; cần xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Vật chứng: 01 gói niêm phong vụ số: 1313/KL-KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bật lửa; 01 cây kéo màu đỏ. Đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen; 01 xe mô tô biển số 70C1-308.70, nhãn hiệu Suzuki, số loại SATRIA, màu xanh đen, số máy: CGA1ID178962, số khung: 11AZKJ178911; dung tích 147 đã qua sử dụng. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Công D (Bờm) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Công D (Bờm) 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-6-2024.
- Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- 4.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong vụ số: 1313/KL-KTHS; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 bật lửa; 01 cây kéo màu đỏ.
- 4.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen; 01 xe mô tô biển số 70C1-308.70, nhãn hiệu Suzuki, số loại SATRIA, màu xanh đen, số máy: CGA1ID178962, số khung: 11AZKJ178911; dung tích 147 đã qua sử dụng.
- Về án phí: bị cáo Trần Công D (B1) phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 22/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRAN CONG DANH - TO CHUC SD MA TUY
