|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2025/HS-PT Ngày 19/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Thể
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam và bà Nguyễn Thị Hải Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Quỳnh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 78/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy N (ông Nguyễn Duy N1) và bị cáo Nguyễn Anh Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Duy N, sinh ngày 30/9/2007 tại huyện T; Nơi cư trú: Xóm T, xã X (X cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An; (khi phạm tội mới 16 tuổi 03 tháng 17 ngày); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Duy N1, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Tiền sự, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Duy N: Ông Nguyễn Duy N1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Xóm T, xã X (X cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy N: Bà Võ Thị H – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Anh Đ, sinh ngày 02/12/2004 tại huyện T; Nơi cư trú: K, xã Đ (thị trấn D cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1980 và bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, tiền án: không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
1
- Đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị P - Chức vụ: Bí thư Đoàn TNCSHCM xã X (X cũ), huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Đại diện Trường THPT N6, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Ngoài ra vụ án còn có người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không có kháng nghị và không có liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tâp đến tham gia phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 16/7/2024, Trịnh Huy H1, Lê Văn N2, Võ Thị Lê N3, sinh ngày 03/6/2009, trú tại: xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Minh S, Trần Văn T1, Nguyễn Hữu Hà N4, sinh ngày 10/5/2009, trú tại khối D thị trấn T, Nguyễn Văn H2, Lê Thanh H3, Trịnh Thị Hà V, Nguyễn Anh Đ, Hồ Diễn N5, Lê Văn H4, Phan Văn Nhật T2, Lê Thị Như Q, Nguyễn Duy N đến dự sinh của Dương Văn Đ2 ở khối C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi ăn uống xong, H1 rủ cả nhóm đi đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An chơi. Trước lúc đi, N5 kể với mọi người về việc trước đó N5 có bị một nhóm thanh niên ở huyện Đ đuổi đánh, nên rủ mọi người trên đường đi, gặp ai đi xe biển số huyện Đ thì sẽ chặt biển số. Thời điểm này, chỉ có H1, Đ2, Văn N2, N3, S, Văn T2, Hà Nam, H2, Thanh H3, V, Đ, Nhật T2 nghe thấy, còn Văn H4, N, Q sau đó mới biết nhưng cũng đồng ý tham gia cùng. Sau đó, cả nhóm sử dụng 08 xe máy để di chuyển với tốc độ cao, không đội mũ bảo hiểm, dàn hàng 3, hàng 4, nẹt tiếng pô to và lạng lách, đánh võng. Riêng H1 còn tự chuẩn bị thanh kiếm dài khoảng 01m để chặt biển số xe và trên đường đi H1 còn cầm kiếm quẹt xuống đường để tạo ra tiếng động và tia lửa, xoay vỏ kiếm trên không theo hình vòng tròn khoảng 200m. Đến đoạn khu vực Cầu R (xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An), Văn N2, N3, N, Văn T2 không tiếp tục tham gia nữa. Tại địa diểm dừng chân khu vực Cầu R, cả nhóm thấy có 3 thanh niên đi trên 01 xe máy chạy qua với tốc độ cao nên đã rủ nhau đuổi theo được khoảng 01km thì không bắt kịp nên giải tán.
Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt: Nguyễn Duy N 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý
2
vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Nguyễn Anh Đ 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị khác và xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo.
Ngày 16/4/2025 bố bị cáo Nguyễn Duy N là ông Nguyễn Duy N1 nộp đơn kháng cáo xin cho bị cáo N được chuyển hình phạt thành hình phạt cải tạo không giam giữ và giao nộp Đơn xin tham gia nghĩa vụ quân sự của bị cáo N (có xác nhận của ông Nguyễn Phùng V1 – ban chỉ huy quân sự xã X), Quyết định số 935/QĐ-BTL ngày 24/6/2013 của Bộ về việc trợ cấp cho ông N1 do là đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cùng ngày bị cáo Nguyễn Anh Đ nộp đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, giao nộp Đơn xin xác nhận của bị cáo về ý thức chấp hành pháp luật tại địa phương.
Tại phiên tòa, ông N1 giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Đ chỉ xin cải biện pháp chấp hành hình phạt từ phạt tù sang cho hưởng án treo. Người bào chữa cho bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N1, chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo có điều kiện tham gia nghĩa vụ quân sự như nguyện vọng của gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Duy N1 và bị cáo Nguyễn Anh Đ. Đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 12 tháng cải tạo không giam giữ.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Đ và ông Nguyễn Duy N1 được nộp trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
- Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” đúng như Tòa án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của các bị cáo khác và những người làm chứng cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có
3
tại hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định:
Trong khoảng thời gian từ 19 giờ 00 phút đến 23 giờ 45 phút, ngày 16/7/2024, tại các địa điểm thuộc Q, Tỉnh lộ đoạn qua Thị trấn D, xã Đ, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Duy N và Nguyễn Anh Đ cùng các bị cáo khác đã thực hiện hành vi điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, dàn hàng ngang, lạng lách, đánh võng, nẹt pô, dùng kiếm quẹt xuống đường gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và các hoạt động khác địa phương. Như vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An kết luận các phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Đ và ông Nguyễn Duy N1 (bố bị cáo N), thấy rằng:
Hai bị cáo là đồng phạm (người thực hành) trong vụ án nhưng đều giữ vai trò thứ yếu và cũng không trực tiếp sử dụng hung khí vũ khí để gây rối; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có người thân có công với cách mạng nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và áp dụng thêm các Điều 91, 101, 65 Bộ luật Hình sự, Luật Tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo Nhất là đúng pháp luật, phù hợp với vai trò, tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với bị cáo N khi phạm tội mới 16 tuổi 03 tháng 17 ngày, luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước, phạm tội là bột phát, không có sự dự mưu và do ham vui mà bị lôi kéo vào hành vi gây rối. Bản thân bị cáo có nguyện vọng được tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự sau khi rời ghế nhà trường là nguyện vọng hết sức cao đẹp của công dân Việt Nam để phụng sự tổ quốc, bảo vệ nhân dân, được cộng đồng ủng hộ. Nếu buộc bị cáo phải chấp hành án treo sẽ khiến bị cáo không thể thực hiện được ước nguyện cao đẹp đó. Ngoài ra, bố bị cáo cũng là người có công với cách mạng (tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự) nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi lượng hình. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông N1, áp dụng Điều 100 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo N cải tạo không giam giữ là đủ nghiêm. Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập.
Đối với bị cáo Đ không có đủ 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 24 tháng tù (mức thấp nhất của khung hình phạt) là phù hợp với tính chất, mức độ tham gia vào hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, được UBND thị trấn D xác nhận việc luôn chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước, phạm tội do bị rủ rê lôi kéo, không lường được hậu quả nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ là không cần thiết mà cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm, cho bị cáo hưởng Điều 65 của Bộ luật
4
Hình sự, cải biện pháp chấp hành hình phạt là đủ răn đe và phòng ngừa tái phạm.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông N1 và của bị cáo Đ được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Đ và ông Nguyễn Duy N1; sửa một phần bản án sơ thẩm như sau:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 100; điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Công an xã X (mới), huyện T, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Đ 02 (H5) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng được cho hưởng án treo, thử thách 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (là ngày 19/6/2025).
Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách và cải tạo không giam giữ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Giao bị cáo Nguyễn Duy N cho Ủy ban nhân dân xã và Công an xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An; giao bị cáo Nguyễn Anh Đ cho UBND xã và Công an xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách và thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân và Công an xã trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, ông N1 và bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thị Hồng Thể |
6
7
Bản án số 87/2025/HS-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 87/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
