TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 18 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thỏa và ông Trần Xuân Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Chanh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST - HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Xuân T, sinh ngày 05/3/1993 tại thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Trung L và bà Bùi Thị H; có vợ Trần Thị A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
Bị hại: Anh Vi Văn B, sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vi Thị H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Vi Thị H1: Ông Vi Văn Q, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng hơn 19 giờ ngày 29/4/2024, Đặng Xuân T (có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 có thời hạn đến ngày 18/01/2028) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet, loại Colorado, biển kiểm soát 29H-100.56 từ thị trấn Đ đi thị trấn T để sửa chữa đồ điện tử cho khách hàng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút, T đi đến gần khu vực ngã tư giao cắt giữa đường T và đường QL2B mới với tốc độ khoảng hơn 40km/h. T quan sát về phía trước không thấy có phương tiện nên bật tín hiệu xi nhan trái để chuyển hướng rẽ trái đi vào đường QL2B mới hướng đi thị trấn T. Khi xe ô tô của T chưa qua vạch chờ thì đèn tín hiệu giao thông đã chuyển vàng, T không dừng lại và giữ nguyên tốc độ khi vào khu vực ngã tư theo hướng đi thị trấn T. Lúc này, T chỉ nhìn về bên trái mà không chú ý quan sát các phía còn lại xem có người hay phương tiện nào đi vào khu vực ngã tư không. Cùng thời điểm đó, anh Vi Văn B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 88E1-066.85 đi trên đường TL302 vào ngã tư di chuyển theo hướng từ xã M đi thị trấn H. Do vượt đèn vàng, không chú ý quan sát khi chuyển hưởng, không làm chủ tốc độ nên khi phát hiện ra xe mô tô của anh B đang đi thẳng, T không kịp xử lý, không kịp giảm tốc độ hoặc dừng lại khiến phần đầu xe bên phải ô tô của T đã đâm vào phía trước xe mô tô của anh B làm anh B và xe mô tô bị đổ ra đường. Hậu quả anh B tử vong tại hiện trường, 02 phương tiện hư hỏng.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã chủ trì khám nghiệm hiện trường, phương tiện và tử thi theo quy định pháp luật. Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56; 01 giấy phép lái hạng B2 mang tên Đặng Xuân T, do sở G cấp; 01 xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85.
1. Kết quả khám nghiệm hiện trường:
- Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông tại ngã tư giao cắt giữa đường Q với đường TL 302 thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện trường nằm trên trục đường QL2B có chiều rộng 31,3m là đoạn đường hai chiều xe chạy có dải phân cách cứng rộng 9,4m, cao 0,2m được dải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng, tầm nhìn thoáng, chiều xe chạy hướng từ thành phố V đi thị trấn T, trên vỉa hè có hệ thống biển báo W.209; W207a; W245a, tiếp theo cột cần vươn bên trên có giá treo biển W207a; i423b biển báo chỉ hướng đi tiếp theo là đường có cột đèn tín hiệu giao thông còn hoạt động ba màu: xanh, đỏ, vàng. Sau đó là biển báo hạn chế tốc độ 50km/h, chiều xe chạy từ thị trấn T đi thành phố V có hệ thống biển báo đèn tín hiệu giao thông tiếp theo là đường có cột đèn tín hiệu giao thông có ba màu: xanh, đỏ, vàng còn hoạt động, đèn đỏ hiện 27 giây, đèn xanh hiện 34 giây, trên mặt đường có hệ thống vạch kẻ đường nét liền màu trắng, phần làn xe chạy, vạch mũi tên chỉ hướng đi vạch nét đứt màu vàng chạy qua ngã tư. Đường TL302 là đoạn đường hai chiều xe chạy rộng 24m có dải phân cách cứng rộng 8,5m, cao 0,2m, chiều xe chạy từ xã H đi xã M có hệ thống biển báo W209; W207a; W208. Sau đó đèn tín hiệu giao thông có ba màu: xanh, đỏ, vàng còn hoạt động. Đường QL2B có lối mở rộng 39,3m có biển báo P102.
- Tiến hành khám nghiệm theo chiều từ thành phố V đi thị trấn T làm hướng khám nghiệm, chọn mép đường bên phải theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn, chọn cột đèn tín hiệu giao thông nằm bên phải trên vỉa hè làm mốc chuẩn.
Quá trình khám nghiệm ghi nhận các dấu vết được đánh số thứ tự cụ thể:
- + Dấu vết (1): Là vị trí in hằn màu đen trên mặt đường hình thành theo chiều khám nghiệm có kích thước (5,9 x 0,2)m; Đo từ dấu vết đến mép đường chuẩn là 16,3m, đến mốc chuẩn là 22,4m, cuối vết đến mép đường chuẩn là 13m.
- + Dấu vết (2): Vị trí vết cà sát trên mặt đường nhựa được hình thành theo chiều từ trái sang phải theo chiều khám nghiệm có kích thước (0,97 x 0,17)m; Đo từ đầu vết đến mép đường chuẩn là 12,85m đến mốc chuẩn là 19,4m, cuối vết đến mép đường chuẩn là 12,2m.
- + Dấu vết (3): Vị trí đám chất dịch màu đen nằm trên mặt đường hình thành theo chiều hướng từ trái sang phải theo chiều khám nghiệm có kích thước (3,7 x 2,5)m; Đo từ đầu vết đến mép chuẩn là 12,2m; đo đến mốc là 18,5m, đo cuối vết đến mép chuẩn là 9,2m.
- + Dấu vết (4): Vị trí yên xe mô tô và nhựa nằm trên mặt đường có kích thước (0,79 x 0,5)m; Đo từ tâm đến mép đường chuẩn là 11,10m; Đo đến mốc là 18m.
- + Dấu vết (5): Vị trí xe ô tô biển kiểm soát 29H-0056 ở trên mặt đường đầu xe hướng đi TT Tam Đảo đuôi xe hướng ngược lại; Đo từ trục trước bên phải đến mép đường chuẩn là 9,6m; đến mốc chuẩn là 13m; đo từ trục sau đến mép đường chuẩn là 11,10m.
- + Dấu vết (6): Vị trí vết cà sát trên mặt đường hình thành từ trái qua phải theo chiều khám nghiệm có kích thước (2,27 x 0,6)m; Đo từ đầu vết đến mép đường chuẩn là 10,3m, đến mốc chuẩn là 17m, đo cuối vết đến mép chuẩn là 8,9m.
- + Dấu vết (7): Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 88E1- 066.85 nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng đi xã M, đuôi xe hướng ngược lại. Đo từ trục trước đến mép chuẩn là 7,8m, đo đến mốc chuẩn là 16,6m, đo từ trục sau đến mép chuẩn là 8,7m, đo đến mốc là 14,75m.
- + Dấu vết (8): Vị trí đám mảnh nhựa vỡ nằm rải rác trên mặt đường có kích thước (8,3 x 8,2)m; Đo từ tâm đến mép chuẩn là 7,85m, đo đến mốc là 11,7m.
- + Dấu vết (9): Vị trí đám chất dịch màu nâu đỏ (nghi là máu) nằm trên mặt đường có kích thước (2,4 x 1,9)m; Đo từ tâm đến mép chuẩn là 6,9m, đo từ tâm đến mốc chuẩn là 10,8m.
- Phương tiện, dấu vết tài liệu và mẫu thu được:
+ Tạm giữ xe mô biển kiểm soát 29H-10056; xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85.
2. Kết quả khám nghiệm phương tiện:
2.1. Xe ô tô biển kiểm soát 29H- 100.56
Tiến hành khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển kiểm soát 29H- 100.56 nhãn hiệu chevrolet- colorado màu đỏ từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái phát hiện các dấu vết sau:
- - Dấu vết (1): Mép bên phải của nắp ca bô phía trước bị cong móp biến dạng theo chiều hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong, bị đẩy dồn từ phải qua trái kích thước (80 x 35)cm, phía trên nắp ca bộ bám dính một số giọt chất màu nâu đỏ đã khô.
- - Dấu vết (2): Kính chắn gió phía trước tại vị trí phía trước ghế phụ bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô dạng giọt chảy trên diện (40 x 80)cm.
- - Dấu vết (3): Ba đờ sốc phía trước bên phải bị rách vỡ, cong biến dạng theo chiều hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong kích thước (50 x 65)cm..
- - Dấu vết (4): Đèn ngầm phía trước bên phải bị bung rời khỏi vị trí ban đầu.
- - Dấu vết (5): Đèn pha phía trước bên phải, đèn tín hiệu phía trước bên phải bị bung vỡ làm nhiều mảnh để lộ hệ thống dây điện bên trong chiều hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong kích thước (40 x 19)cm
- - Dấu vết (6): Ốp kim loại bảo vệ đầu xe bên phải bị móp méo, cong vênh, biến dạng, bong tróc sơn ở nhiều vị trí điểm cong vênh mạnh nhất nằm tương ứng phía trên lốp bánh xe phía trước bên phải, chiều hướng từ trước về sau, từ ngoài vào trong, tại vị trí cong vênh này trên bề mặt bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ (đã khô dạng nhỏ giọt) kích thước (72x35)cm.
- - Dấu vết (7): Tại vị trí mặt ngoài la răng bánh trước bên phải có dấu vết mài sát kim loại bám dính chất màu đen, dấu vết này cách chân van 40cm theo chiều kim đồng hồ.
- - Dấu vết (8): Kính chắn gió và mặt ngoài cửa trước bên phải bám dính nhiều chất dịch màu đỏ (đã khô) dạng bắn tia nằm trên diện (105x43)cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết gì khác.
Kiểm tra hệ thống an toàn kỹ thuật của phương tiện gồm: đèn pha, còi, cụm đèn pha, đèn tín hiệu phía trước bên trái hoạt động bình thường. Cụm đèn pha, đèn tín hiệu phía trước bên phải không hoạt động được do hư hỏng. Cụm đèn báo hãm, đèn tín hiệu phía sau bên trái, bên phải hoạt động bình thường. Hệ thống phanh hoạt động bình thường.
+ Quá trình khám phương tiện thu mẫu: Không.
2.2 Xe mô tô Yamaha Sirius biển kiểm soát 88E1-006.85
Tiến hành khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 88E1-006.85 nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu sơn đen trắng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái phát hiện các dấu vết sau:
- - Dấu vết (1): Toàn bộ cụm đèn tín hiệu phía trước đồng hồ, tay lái bị gãy bung rời khỏi vị trí ban đầu được giữ lại bởi hệ thống dây điện;
- - Dấu vết (2): Càng xe phía trước và bánh xe phía trước bị gãy bung rời khỏi vị trí ban đầu;
- - Dấu vết (3): Yên xe bị bung rời khỏi vị trí ban đầu;
- - Dấu vết (4): Bàn để chân phía trước bên trái bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên, cần gạt số phía trước bị đẩy cong theo chiều hướng từ trước về sau;
- - Dấu vết (5): Cánh yếm bên trái, bên phải bị vỡ bung khỏi vị trí bên đầu;
- - Dấu vết (6): Phía trước bầu lọc gió có vết vỡ kim loại ở nhiều vị trí nằm trên diện (5x5,2)cm;
- - Dấu vết (7): Ốp nhựa sườn bên phải phía trước bị bung rời khỏi vị trí ban đầu;
Ngoài ra không phát hiện thêm dấu vết gì khác.
+ Hệ thống an toàn kỹ thuật phương tiện không kiểm tra được do xe bị hư hỏng nặng.
+ Quá trình khám phương tiện thu mẫu: Không.
3. Kết quả khám nghiệm tử thi:
Ngày 29/04/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T có Quyết định Trưng cầu giám định tử thi số 522/QĐ- ĐTTH để xác định nguyên nhân tử vong của Vi Văn B. Ngày 23/05/2024, Phòng K Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định tử thi số 1426/KLGĐTT-PC09-PY, kết luận:
* Các kết quả chính:
- Kết quả khám nghiệm:
+Ngực phải mất vững kiểm tra thấy: Xương ức, cung trước xươn sườn bên phải gãy, tụ máu; hai phổi phù căng, dập rách phổi phải; rách tĩnh mạch chủ trên; khoang ngực hai bên có ít máu không đông.
+ T1 thây sây sát, bầm tím, rách da rải rác nhiều vị trí; trật khớp cổ tay, rách da lộ xương đốt bàn ngón tay phải; gãy kín đầu dưới hai xương cẳng tay trái; gãy kín phức tạp xương đùi trái.
* Kết luận:
- Nguyên nhân chết của Vi Văn B: Chấn thương ngực kín, trên người bị đa chấn thương.
4. Kết quả giám định kỹ thuật số điện tử:
Tại kết luận giám định số 1941/KL-KTHS ngày 02/7/2024, Phòng K Công an tỉnh V có kết luận giám định số: “chụp được 8 ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 bản ảnh giảm định”. Tại kết luận giám định số 2400/KL-KTHS ngày 19/8/2024, Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Trích xuất được 07 ảnh diễn biến từ 01 tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định; chi tiết được thể hiện trong Phụ lục giám định. Màu của đèn tại thời điểm 19 giờ 29 phút 55 giây (thời gian hiện thị trên video) được thể hiện trong Phụ lục giám định”. Nội dung các kết luận giám định đều phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, như nêu trên.
5. Kết quả giám định nồng độ cồn, ma túy:
Ngày 30/4/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện T có Quyết định trưng cầu giám định để giám định nồng độ cồn và chất ma tuý trong máu của anh Vi Văn B, Đặng Xuân T2. Kết quả: không phát hiện thấy có cồn (E) và không phát hiện thành phần chất ma tuý (Heroine, M, MDMA, Methamphetamine, Ketamine, 2C-B, TFMPP) trong mẫu máu của B, T.
6. Định giá tài sản:
Ngày 08/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Yêu cầu định giá tài sản số 114, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị thiệt hại tài sản đối với hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85 và xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56. Tại Bản kết luận định giá số 319 ngày 23/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56 là 11.050.000 đồng, xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85 là 7.400.000 đồng.
7. Về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự:
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56, quá trình điều tra xác định là tài sản tài sản hợp pháp của anh Vũ Trung H2, sinh năm 1989 ở tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện T, đăng ký chính chủ. Anh H2 cho anh Vũ Cao T3, sinh năm 1984 ở cùng tổ dân phố thuê lại xe ô tô trên để đi lại, theo hợp đồng đã ký ngày 01/10/2023. Do T là nhân viên sửa chữa đồ điện tử làm thuê cho anh T3, đã được cấp bằng lái xe hạng B2 nên anh T3 giao cho T chiếc xe trên làm phương tiện đi làm. Việc anh H2 cho anh T3 thuê xe và việc anh T3 giao xe cho T là hợp pháp, bản thân T phạm tội với lỗi vô ý, do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý đối với anh H2, anh T3 và chiếc xe nêu trên. Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 29H – 100.56 cho anh Vũ Trung H2, sau khi nhận được xe, anh H2 không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lý Văn C, sinh năm 1994 ở thôn Đ, xã Y, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Anh C và anh B đi làm cùng và ở cùng phòng trọ tại huyện G, thành phố Hà Nội, ngày 29/4/2024, anh C đi làm ở Hà Giang để xe mô tô ở phòng trọ, B đã tự ý lấy xe mô tô của anh C để đi về nhà, trên đường về bị tai nạn giao thông. Do anh C không biết việc B sử dụng xe nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C và chiếc xe mô tô nêu trên. Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 88E1-006.85 cho chủ sở hữu hợp pháp, sau khi nhận lại tài sản, anh C không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì.
Về việc bồi thường dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Đặng Xuân T đã bồi thường thiệt hại cho gia đình anh B tổng số 200.000.000 đồng là tiền mai táng phí, bồi thường tổn thất tinh thần. Sau khi nhận đủ số tiền trên, gia đình bị hại, đại diện là anh Vi Văn Q (cậu ruột B) không có yêu cầu đề nghị gì khác, đồng thời có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Xuân T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số: 84/CT-VKSTĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đặng Xuân T, quá trình điều tra xác định là giấy tờ của bị cáo cần trả lại nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại: Không đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Đặng Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, biên bản khám nghiệm hiện trường, các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 29/4/2024, Đặng Xuân T, có giấy phép lái xe theo quy định còn thời hạn, một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56 đi theo hướng từ Đ lên thị trấn T với tốc độ khoảng 40 – 50km/h, khi đến ngã tư giao nhau giữa TL302 và QL2B thuộc tổ dân phố T, thị trấn H, huyện T, T chuyển hướng rẽ trái đi vào QL2B. Do không chấp hành đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn vàng), không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không giảm tốc độ khi chuyển hướng nên phần đầu xe ô tô của T đã va chạm với xe máy biển kiểm soát 88E1-066.85 do anh Vi Văn B điều khiển đang vào ngã tư đi thẳng theo hướng từ xã M đi thị trấn H. Hậu quả: Anh B tử vong, 02 phương tiện hư hỏng.
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Xuân T điều khiển xe ô tô không chấp hành tín hiệu giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không giảm tốc độ khi đến ngã tư giao cắt gây tai nạn đã vi phạm Điều 9, 10, 15 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Điều 9 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Điều 10 Hệ thống báo hiệu đường bộ:...
3. Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu quy định như sau: .......
c. Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng ...”.
Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định:
“Khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ ...”.
Khoản 2, Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp: ...
2. Chuyển hướng xe chạy ...”;
Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Xuân T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, Làm chết người...”.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng tới trật tự an toàn cho xã hội, gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của người khác. Khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ theo quy định của luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô do anh Vi Văn B là người điều khiển xe và hậu quả là anh B tử vong.
[4] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Gia đình bị cáo có ông nội được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến, bố được Bộ trưởng Bộ N tặng Bằng khen, bị cáo được Hội chữ thập đỏ tỉnh Vĩnh Phúc tặng Giấy khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị hại là người điều khiển xe mô tô, quá trình điều tra xác định, chưa được cấp giấy phép lái xe theo quy định, khi đi qua nơi đường giao nhau không chấp hành đèn tín hiệu giao thông (vượt đèn vàng), không chú ý quan sát, đi xe với tốc độ nhanh, không làm chủ tốc độ nên để xảy ra va chạm với xe ô tô do bị cáo điều khiển, đã vi phạm quy định tại Điều 8, 10 Luật Giao thông đường bộ; khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ nên cũng có lỗi một phần.
Căn cứ vào mức độ lỗi của các bên và xét thấy trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật, phạm tội do lỗi vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do vậy cần chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại tổng số 200.000.000 đồng là tiền mai táng phí, bồi thường tổn thất tinh thần. Sau khi nhận đủ số tiền trên, gia đình bị hại không có yêu cầu đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56, quá trình điều tra xác định là tài sản tài sản hợp pháp của anh Vũ Trung H2. Anh H2 cho anh Vũ Cao T3 thuê lại xe ô tô trên để đi lại. Do T là nhân viên sửa chữa đồ điện tử làm thuê cho anh T3, đã được cấp bằng lái xe hạng B2 nên anh T3 giao cho T chiếc xe trên làm phương tiện đi làm. Việc anh H2 cho anh T3 thuê xe và việc anh T3 giao xe cho T là hợp pháp nên Cơ quan Công an huyện T không đề cập xử lý đối với anh H2, anh T3 và chiếc xe nêu trên. Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô biển kiểm soát 29H-100.56 cho anh H2. Sau khi nhận được xe, anh H2 không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 88E1-066.85, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lý Văn C. Anh C và anh B đi làm cùng và ở cùng phòng trọ tại huyện G, thành phố Hà Nội. Ngày 29/4/2024, anh C đi làm ở Hà Giang để xe mô tô ở phòng trọ, B đã tự ý lấy xe mô tô của anh C để đi về nhà, trên đường về bị tai nạn giao thông. Do anh C không biết việc B sử dụng xe nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C và chiếc xe mô tô nêu trên. Ngày 12/7/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 88E1-006.85 cho chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản, anh C không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Đặng Xuân T do bị cáo không hành nghề lái xe nên trả lại cho bị cáo.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đặng Xuân T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Xuân T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyên T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo Đặng Xuân T 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 18/01/2018 có hiệu lực đến ngày 18/01/2028.
(Vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 17/10/2024 giữa Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Thái |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Xuân T
