Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/DS-PT

Ngày 13 - 03 - 2025

“Về việc tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu

    Các Thẩm phán:

Ông Lê Văn Hùng

Ông Ngô Đê

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Tấn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 343/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 94/2024/DS-ST ngày 20 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 183/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số:17/2025/QĐ-PT ngày 08/01/2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 27/2025/ QĐ-PT và Thông báo mở lại phiên tòa số: 36/TB- TA ngày 27/02/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Thạch Thị L, sinh năm 1965, có mặt;
  2. Địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Thạch Thị L: Luật sư Trầm Phú L1 - Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

  3. Bị đơn: Bà Khâu Thị H, sinh năm 1946, có mặt;
  4. Địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Khâu H1, sinh năm 1961, có mặt;
    • Địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

    • Ông Kiên O, sinh năm 1957 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
    • Anh Kiên T, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
    • Anh Kiên N, sinh năm 1984 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
    • Anh Kiên Minh H2, sinh năm 1986 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
    • Ông Thạch S, sinh năm 1930 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);
    • Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1988 (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt);

    Cùng địa chỉ: Ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

  6. Người phiên dịch: Ông Thạch V - Giáo viên Trường P1, huyện C, tỉnh Trà Vinh - phiên dịch từ tiếng việt sang tiếng Khmer và ngược lại.

- Người kháng cáo: Bà Thạch Thị L là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lê Thị Minh K là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và có yêu cầu như sau:

Ngày 07 tháng 3 năm 2000, bà Thạch Thị L có nhận chuyển nhượng của bà Lâm Thị S1 (sinh năm 1916, chết năm 2010 – là mẹ của Khâu Thị H, Khâu H1) quyền sử dụng đất có diện tích 5.730m², loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202 và diện tích 970 m², loại đất ao, thuộc thửa số 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân thị xã T (nay là thành phố T) cấp ngày 01 tháng 01 năm 1996 do ông Khâu P (sinh năm 1913, chết năm 1998 - là cha của Khâu Thị H, Khâu H1) đại diện hộ gia đình đứng tên, giá chuyển nhượng do các bên thỏa thuận là 8,8 cây vàng 24K. Việc chuyển nhượng được lập “Tờ chuyển nhượng đất ruộng” tay đề ngày 07 tháng 03 năm 2000 có ký tên của bà Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H và ông Khâu H1. Sau khi lập tờ thỏa thuận thì bà L đã giao đủ số vàng là 8,8 cây vàng 24K cho hộ bà S1 và đã nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhận đất sử dụng ổn định để trồng lúa cho đến nay không có ai tranh chấp. Trong quá trình sử dụng đất, bà L đã nhiều lần yêu cầu hộ bà Lâm Thị S1 thực hiện thủ tục sang tên cho bà L nhưng hộ bà S1 cứ hứa hẹn mà không thực hiện. Đến năm 2010, bà S1 chết thì con của bà S1 là bà Khâu Thị H và ông Khâu H1 không đồng ý thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho bà L.

Nay bà Thạch Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Thạch Thị L với hộ bà Lâm Thị S1 đối với quyền sử dụng đất diện tích 5.730 m² (thực đo 5.764,4 m²), loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202 và diện tích 970 m² (thực đo 761,3 m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và yêu cầu công nhận cho bà Thạch Thị L được quyền sử dụng các phần đất nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà Khâu Thị H là bị đơn trình bày và có yêu cầu như sau:

Bà Khâu Thị H không có quan hệ họ hàng gì với bà Thạch Thị L. Bà Khâu Thị H và bà Lâm Thị S1 không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Thạch Thị L và bà Khâu Thị H cũng không biết gì về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đối với các yêu cầu của bà Thạch Thị L thì bà Khâu Thị H không đồng ý.

Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khâu H1 trình bày như sau:

Ông là con ruột của cụ Lâm Thị S1 và cụ Khâu P. Ngày 07/3/2000 mẹ ông, ông và bà H đã chuyển nhượng cho bà Thạch Thị L quyền sử dụng đất diện tích 5.730 m² (thực đo 5.764,4 m²), loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202 và diện tích 970 m² (thực đo 761,3 m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Vàng do mẹ ông nhận và đã giao đất xong cho đến nay nên ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án anh Kiên T, anh Kiên N, Kiên Minh H2, Nguyễn Thanh T1 (là con bà L), ông Kiên O (chồng bà L), ông Thạch S (cha bà L): Trình bày và yêu cầu thống nhất với yêu cầu của bà Thạch Thị L.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 94/2024/DS-ST ngày 20 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 166, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Án lệ số: 55/2022/AL của Tòa án nhân dân tối cao; Căn cứ vào khoản 4 Điều 26, điểm a khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L.

  1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L đối với phần đất có diện tích 5.730 m² (thực đo là 5.764,4 m²), loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202, tờ bản đồ số 8 (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và công nhận cho bà Thạch Thị L được quyền sử dụng phần đất nêu trên. Đất có tứ cận như sau:
    • Hướng Bắc giáp thửa 1201, kích thước 3,60m và 112,77 m; giáp thửa 1204, kích thước 34,03m và 50,16m;
    • Hướng Nam giáp thửa 1340, kích thước 82,85m; giáp thửa 1339, kích thước 80,02m;
    • Hướng Đông giáp 477, kích thước 12,13m; giáp thửa 476, kích thước 16,70m; giáp thửa 475, kích thước 7,98m;
    • Hướng Tây giáp thửa 1203, kích thước 15,86m, 19,26m và 14,64m.

    (Kèm theo sơ đồ thửa đất).

    Bà Thạch Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung quyết định của bản án này.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L đối với phần đất có diện tích 970 m² (thực đo là 761,3 m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, tờ bản đồ số 8 (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá và lệ phí yêu cầu cung cấp thông tin, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, bà Thạch Thị L có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận cho bà Thạch Thị L được quyền sử dụng diện tích 5.730m² (thực đo là 5.764,8m²), loại đất LUA, thuộc thửa 1202 và diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và xin rút 01 phần kháng cáo đối với yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 5.730m² (thực đo là 5.764,8m²) loại đất LUA, thuộc thửa 1202, vì theo Bản án sơ thẩm đã công nhận cho bà L đối với thửa đất trên; còn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đối với yêu cầu công nhận diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203; các đương sự có mặt tại phiên toà không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án;

Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích cho nguyên đơn:

Cho rằng kháng cáo của bà Thạch Thị L là có cơ sở. Bởi vì, hộ cụ Lâm Thị S1 chuyển nhượng cho bà Thạch Thị L toàn bộ diện tích thửa số 1202 và thửa số 1203 là có thật. Theo tờ chuyển nhượng ngày 07 tháng 3 năm 2000 thì thể hiện bà L có nhận chuyển nhượng diện tích 5.730m², loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202 nhưng trên thực tế bà Thạch Thị L đã nhận chuyển nhượng luôn cả diện tích 970m², loại đất ao, thuộc thửa số 1203 từ hộ cụ S1. Việc giao nhận vàng và đất đã được thực hiện xong từ ngày 07 tháng 3 năm 2000. Bà L đã nhận đất, trồng cây, sang lắp mặt bằng 02 thửa đất liền kề nhau, việc này cũng được ông Khâu H1 thừa nhận. Bà L đã sử dụng công khai, liên tục từ lúc nhận chuyển nhượng cho đến nay là phù hợp với quy định tại mục 2, phần II của Nghị quyết số 02/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ông Khâu H1 là con của cụ Lâm Thị S1 và cụ Khâu P có tham gia vào việc chuyển nhượng và thừa nhận có việc chuyển nhượng. Ông Khâu H1 cũng không có tranh chấp và thống nhất tiếp tục thực hiện hợp đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của ông Khâu H1, áp dụng quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 139 của Bộ luật Dân sự năm 1995 và Á lệ số 55 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L đối với phần đất diện tích 970m² (thực đo 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 07 tháng 3 năm 2000 giữa cụ S1 và bà L đối với phần đất diện tích 5.730m² thuộc thửa số 1202 và diện tích 970m² loại đất ao thuộc thửa số 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, tuy không đúng về hình thức nhưng bên nguyên đơn đã nhận đất, bên bị đơn đã nhận tiền. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1202 là có thật được ông Khâu H1 và ông Kiên S2 Hoan xác nhận, đồng thời bên nhận chuyển nhượng đã giao vàng, nhận đất, nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng thời gian dài không có tranh chấp nên xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất 1202 là có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng đối với thửa 1203 nhưng không xem xét hủy phần hợp đồng này và nhận định phía bị đơn không có yêu cầu để giải quyết hậu quả là chưa phù hợp, do phía nguyên đơn đã nhận đất lên liếp trồng dừa nhiều năm nhưng không công nhận đất lại không buộc ai trả giá trị cho nguyên đơn là chưa giải quyết hết nội dung vụ án, chưa đảm bảo khách quan, toàn diện trong đánh giá chứng cứ theo Điều 108 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm b, tiểu mục 2.3 mục 2 phần II của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thì Toà án công nhận hợp đồng trong các trường hợp sau đây: b.3 nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Vì vậy, nguyên đơn kháng yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm là có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 94/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Thạch Thị L là hợp lệ và còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Các đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông Khâu H1) vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định.

[3] Xét nội dung vụ án, kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[3.1] Xét về nguồn gốc đất, quá trình đăng ký kê khai:

Qua lời trình bày của các bên đương sự, đối chiếu tư liệu đăng ký kê khai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND thị xã T, tỉnh Trà Vinh (nay là thành phố T) cấp cho hộ cụ Khâu P vào ngày 01/01/1996, đủ cơ sở xác định quyền sử dụng đất diện tích 5.730m² (thực đo là 5.764,4m²), loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202 và diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, cùng tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là của cụ Khâu P và cụ Lâm Thị S1 (là cha mẹ của bà Khâu Thị H và ông Khâu H1).

[3.2] Quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp và kháng cáo:

+ Đối với thửa 1202, diện tích 5.730m², loại đất trồng lúa: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Thạch Thị L rút lại yêu cầu kháng cáo đối với thửa đất này, trong vụ án không có kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét thấy việc rút kháng cáo của bà L là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút.

+ Đối với thửa 1203, diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao: Xét thấy, theo nội dung “Tờ chuyển nhượng đất ruộng” viết tay lập ngày 07 tháng 03 năm 2000 thì ngoài phần ghi chuyển nhượng diện tích 5.730m² còn có ghi thêm đoạn “cộng diện tích đìa là 970m²”. Qua làm việc với bà Thạch Thị L tại Biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 6 năm 2024 (bút lục số 73, 74, 75, 76) thì bà Thạch Thị L thừa nhận phần này do bà L viết thêm vào lúc giao vàng. Bà Thạch Thị L cho rằng phần diện tích đìa 970m² là chuyển nhượng chung với diện tích đất ruộng và bà cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H cùng ông Khâu H1 cũng thống nhất với việc ghi thêm vào. Tuy nhiên, theo nội dung xác nhận ngày 03 tháng 3 năm 2002 của ông Kiên S2 Hoan thì ông Kiên S2 Hoan chỉ xác nhận các bên chuyển nhượng phần diện tích 5.730m². Như vậy, việc bà Thạch Thị L ghi thêm vào phải được thực hiện sau ngày 03 tháng 03 năm 2002 chứ không phải lúc giao vàng như bà L trình bày.

Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, ông Khâu H1 thừa nhận cả cụ S1, ông và bà H đã ký chuyển nhượng cho bà Thạch Thị L cả 02 thửa đất 1202 và 1203, nhưng xét thấy lời trình bày của ông Khâu H1 là không khách quan, mặc dù việc thừa nhận này không có lợi cho ông H1. Bởi lẽ, giữa ông Khâu H1 và bà Khâu Thị H, đều là con nuôi của cụ Khâu P và cụ Lâm Thị S1 – do 02 cụ không có con (ông K1 H1 là cháu bên cụ P, bà Khâu Thị H là cháu bên cụ S1), ông Khâu H1 là em ruột của ông Kiên O, ông Kiên O là chồng của bà Thạch Thị L. Trước đây, giữa ông Khâu H1 và bà Khâu Thị H có tranh chấp gây gắt với nhau về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp chia thừa kế di sản của cụ P và cụ S1 để lại, trong đó bà Thạch Thị L đứng về phía ông Khâu H1. Từ đó, giữa ông Khâu H1 và bà Khâu Thị H có sự mâu thuẫn với nhau từ trước đến nay.

Bà Thạch Thị L tự ghi vào có chuyển nhượng phần diện tích 970m² thuộc thửa 1203 nhưng không có chứng cứ gì chứng minh là cụ Lâm Thị S1 và bà Khâu Thị H đồng ý, cũng như không có chứng cứ chứng minh số vàng 8,8 cây là số vàng chuyển nhượng cho cả phần diện tích 5.730m² và phần diện tích 970m². Do không có cơ sở xác định có sự việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận vàng chuyển nhượng diện tích 970 m² thuộc thửa 1203 giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L nên cấp sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện của bà Thạch Thị L đối với diện tích đất này là có cơ sở.

[4] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn: Cho rằng kháng cáo của bà L đối với diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), thuộc thửa 1203 là có cơ sở, do từ lúc cụ Lâm Thị S1 còn sống cũng không có tranh chấp hay ngăn cản việc bà Thạch Thị L sử dụng thửa đất này; cho đến hiện nay bà Khâu Thị H cho rằng không có việc chuyển nhượng đất nhưng cũng không phản đối việc bà L sử dụng đất, lên liếp trồng dừa đã hơn 20 năm nay. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở, vì việc thỏa thuận chuyển nhượng đất giữa bà Thạch Thị L với cụ Lâm Thị S1 xảy ra từ ngày 07/03/2000, đến năm 2010 (cách nhau 10 năm) thì cụ Lâm Thị S1 mới chết, đất của hộ cụ Khâu P (chồng cụ Lâm Thị S1) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp lệ từ ngày 01/01/1996, tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng không cầm cố, thế chấp cho cá nhân hay tổ chức nào và bà Thạch Thị L là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho nên trong khoản thời gian này, nếu có việc chuyển nhượng cả 02 thửa đất 1202 và 1203 thì bà Thạch Thị L làm thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định của Nhà nước rất dễ dàng. Như vậy cho thấy, do bà Thạch Thị L đã tự ý viết thêm trong tờ giấy tay sang nhượng đất “cộng diện tích đất đìa 970m²” từ đó giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng không thống nhất nhau dẫn đến bà L không thể làm thủ tục sang tên theo quy định cho đến nay.

[5] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc kháng cáo của bà Thạch Thị L là có cơ sở chấp nhận (thể hiện ở phần phát biểu), Hội động xét xử phúc thẩm xét thấy không chấp nhận như nhận định ở phần [3, 4]. Đồng thời, xét thấy diện tích đất 970m² (thực đo là 761,3m²) cấp sơ thẩm không chấp nhận khởi kiện của bà Thạch Thị L, nhưng không hủy hợp đồng chuyển nhượng là có căn cứ, bởi vì xác định giữa cụ Lâm Thị S1 với bà Thạch Thị L không có hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất 1203 mà chỉ do bà L tự ý ghi thêm; cấp sơ thẩm không giao đất lại cho ai và chưa tính công sức gìn giữ tôn tạo làm tăng giá trị đất của bà L là đúng, bởi vì, diện tích đất trên vẫn còn cụ Khâu P đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là tài sản chung của vợ chồng cụ P và cụ S1 (hoặc của hộ gia đình), 02 cụ đều đã chết nên đã phát sinh thừa kế. Tuy nhiên, hiện nay đất do bà Thạch Thị L đang quản lý sử dụng và có cải tạo, trồng cây trên đất, do vậy khi giải quyết tranh chấp chia thừa kế thì sẽ xem xét đến quyền lợi của bà Thạch Thị L, cho nên quyền lợi của bà L vẫn được bảo đảm. Cho nên việc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 94/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo hướng chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là không có cở sở chấp nhận.

Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy kháng cáo của bà Thạch Thị L là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét thấy bà Thạch Thị L thuộc diện người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên xét miễn án phí cho bà Thạch Thị L;

[7] Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 298, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 5 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đình chỉ xét xử 01 phần kháng cáo của nguyên đơn đối với kháng cáo đã rút là diện tích 5.730m² (thực đo là 5.764,8m²), loại đất LUA, thuộc thửa 1202, tờ bản đồ số 8 (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Không chấp nhận phần kháng cáo còn lại của bà Thạch Thị L đối với diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, tờ bản đồ số 8, (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh;

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 94/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L.

  1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L đối với phần đất có diện tích 5.730m² (thực đo là 5.764,4m²), loại đất trồng lúa, thuộc thửa số 1202, tờ bản đồ số 8 (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh và công nhận cho bà Thạch Thị L được quyền sử dụng phần đất nêu trên. Đất có tứ cận như sau:
    • Hướng bắc giáp thửa 1201, kích thước 3,60m và 112,77m; giáp thửa 1204, kích thước 34,03m và 50,16m;
    • Hướng nam giáp thửa 1340, kích thước 82,85m; giáp thửa 1339, kích thước 80,02m;
    • Hướng đông giáp 477, kích thước 12,13m; giáp thửa 476, kích thước 16,70m; giáp thửa 475, kích thước 7,98m;
    • Hướng tây giáp thửa 1203, kích thước 15,86m, 19,26 m và 14,64m;

    (Kèm theo sơ đồ thửa đất theo Công văn: 1266/CNTPTV ngày 19/07/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh thành phố T).

    Bà Thạch Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ đến cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nội dung quyết định của bản án này.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị L đối với yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Lâm Thị S1, bà Khâu Thị H, ông Khâu H1 với bà Thạch Thị L đối với phần đất có diện tích 970m² (thực đo là 761,3m²), loại đất ao, thuộc thửa 1203, tờ bản đồ số 8 (theo tư liệu đo đạc năm 1992) tọa lạc tại ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và cung cấp thông tin: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và cung cấp thông tin bằng 4.931.527 đồng. Buộc bà Thạch Thị L và bà Khâu Thị H mỗi người phải chịu bằng 2.465.763 đồng. Bà Thạch Thị L đã nộp tạm ứng số tiền 6.000.000đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh. Tòa án đã chi số tiền 4.931.527đồng cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và cung cấp thông tin, do đó bà Thạch Thị L không phải nộp thêm và được nhận lại số tiền 1.068.473 đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh. Bà Khâu Thị H phải nộp số tiền 2.465.763 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự để trả lại cho bà Thạch Thị L.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Thạch Thị L phải chịu án phí không giá ngạch bằng 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0018189 ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Bà Thạch Thị L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn thừa bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000815 ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh;
  5. Buộc bà Khâu Thị H phải chịu án phí không giá ngạch bằng 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Thạch Thị L. Hoàn trả cho bà Thạch Thị L số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 000917 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
  7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND TP Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS TP Trà Vinh ;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 87/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger