Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

2. Bà Nguyễn Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ tên: Trương Minh S, tên gọi khác: T, sinh năm 1997, tại Đồng Nai. Nơi đăng ký HKTT: Số 62/25/22, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Minh Q, sinh năm 1973 và Võ Thị Ánh T1, sinh năm: 1976; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 04/6/2019 bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Đã đóng phạt xong ngày 02/7/2019).

Nhân thân: Ngày 07/11/2023, bị Ủy ban nhân dân phường H, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/12/2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B theo Lệnh tạm giam số 2518/LTG-VKSBH ngày 08/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991.

Địa chỉ HKTT: Tổ D, Ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Nơi ở hiện nay: Ấp G, xã A, thành phố B, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/3/2020, do không ngủ được, Trương Minh S đi qua khu vực sân nhà anh Võ Minh Đ, sinh năm 1990, tại địa chỉ: A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đối diện chỗ ở của S để nằm võng thì phát hiện thấy trên võng có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei (model: INE LX2R). S biết là điện thoại của anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1991, nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là bạn của anh Đ (vì trước đó S có nhìn thấy anh T2 nằm trên võng và sử dụng điện thoại trên) nên S nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định trên, lợi dụng lúc không có ai để ý, S liền lấy trộm chiếc điện thoại trên của anh T2, sau đó mang đi cầm cho bà Nguyễn Thị Hà T3 (sinh năm 1968, ngụ tại: A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) được số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiêu xài hết và bỏ đi khỏi địa phương. Đến ngày 10/12/2024, S đã đến Công an phường T đầu thú, Công an phường T đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khởi tố, điều tra xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei (model: INE LX2R) do bà Nguyễn Thị Hà T3 giao nộp, là tài sản của anh Nguyễn Văn T2 bị trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 149/TCKH-HĐĐG ngày 17/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei (model: INE LX2R) trị giá 3.672.000₫ (Ba triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Tại Bản cáo trạng số 130/CT-VKSBH ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trương Minh S về tội "Trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Anh T2 và bà Nguyễn Thị Hà T3 không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến đối với việc truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Trên cơ sở khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 08/3/2020, tại khu vực sân nhà anh Võ Minh Đ số A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Trương Minh S đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Huawei (model: INE LX2R), trị giá 3.672.000₫ (Ba triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn T2 thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.

Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, bị cáo biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã cố tình vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Lẽ ra sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính, bị cáo phải lấy đó làm bài học răn dạy bản thân, phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, ngày 10/12/2024 bị cáo đã ra đầu thú nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng trong vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Huawei (model: INE LX2R) do bà Nguyễn Thị Hà T3 giao nộp, là tài sản của anh Nguyễn Văn T2 bị trộm cắp nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T2 là đúng quy định pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt. Anh T2 và bà Nguyễn Thị Hà T3 không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

[9] Về vấn đề khác: Đối với bà Nguyễn Thị Hà T3 là người đã nhận cầm đồ chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp được của anh T2. Tuy nhiên, bà Hà T3 không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp quy định.

[10] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trương Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Minh S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/12/2024.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Buộc bị cáo Trương Minh S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại (02);
  • - VKSND Tp.Biên Hòa (01);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Công an Tp.Biên Hòa (01);
  • - Cơ quan Thi hành án (01);
  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Lưu VP-HS (05).

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Trúc Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 87/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Minh Sang phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger