Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2025/DS-PT

Ngày: 11 - 02 - 2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Ngọt;

Ông Nguyễn Chí Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 511/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5142/2024/QĐXXPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2025/QĐ-PT ngày 07 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ngân hàng N.

Địa chỉ: Số B, đường L, phường T, quận B, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng Giám đốc.

1

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tô Minh H, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B. (Theo Quyết định uỷ quyền số 2664/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022)

Ông Tô Minh H uỷ quyền lại cho:

Ông Nguyễn Văn M, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B. (Theo giấy uỷ quyền số 368/UQ-NHNo.Tp ngày 01/8/2024); Địa chỉ: Số G, N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

2. Bị đơn:

Bà Phạm Thị G, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Đỗ Hoàng L, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Số A, khu phố E, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L (Theo giấy uỷ quyền ngày 22/8/2024):

Ông Võ Đức T, sinh năm 2001; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số B, ấp E, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ liên hệ: Số G, ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

4. Người kháng cáo: Bà Phạm Thị G, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm;

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Phạm Thị G đã vay vốn tại Ngân hàng N - Chi nhánh Thành phố B theo Hợp đồng tín dụng số 7101/2018/018/BD/HĐTD ngày 20/3/2018; số tiền vay: 4.000.000.000 đồng. Dư nợ tại ngày 30/4/2024 là 1.500.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa nhà tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, diện tích 300m² theo đơn xin sửa nhà ngày 19/3/2018; san lắp mặt bằng, xây hàng rào, bờ kè, mua sắm vật dụng gia đình. Thời hạn cho vay 96 tháng từ ngày 20/3/2018, hạn trả là ngày 22/3/2026. Lãi suất cho vay trong hạn: 11 %/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10,0 %/năm. Số

2

tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn tính đến ngày 26/9/2024 là: 1.696.305.942 đồng, trong đó số tiền gốc là: 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 182.404.109 đồng; lãi quá hạn: 8.476.027 đồng; lãi chậm trả: 5.425.806 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, các bên đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7101/2018/018/BĐ/HĐTC ngày 20/3/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 7101/2023/028/BĐ/HĐSĐBS ngày 14/11/2023 giữa Ngân hàng N với bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 225, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.488,1m², tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 416362, số vào sổ cấp GCN: CS05003 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2018 do bà Phạm Thị G đứng tên.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Thị G đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi và để phát sinh nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã tạo mọi điều kiện cho khách hàng thanh toán đúng hạn nhưng bà Phạm Thị G không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:

  • Buộc bà Phạm Thị G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền là nợ gốc, số tiền nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 26/9/2024 là: 1.696.305.942 đồng, trong đó số tiền gốc là: 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn: 182.404.109 đồng; lãi quá hạn: 8.476.027 đồng; lãi chậm trả: 5.425.806 đồng.
  • Buộc bà Phạm Thị G phải tiếp tục chịu lãi vay trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến ngày trả tất nợ vay tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng nêu trên.
  • Trường hợp bà Phạm Thị G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ vay gồm tài sản: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 225, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.488,1m², tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 416362, số vào sổ cấp GCN: CS05003 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2018 do bà Phạm Thị G đứng tên.

Đối với yêu cầu xin trả nợ dần, phương án trả nợ và yêu cầu áp dụng mức lãi suất mà tại văn bản trình bày ý kiến ngày 25/9/2024 của ông Võ Đức T là

3

người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L đã trình bày thì phía nguyên đơn không đồng ý.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị G, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Hoàng L không cung cấp cho Tòa án lời khai cũng như tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án.

Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 25/9/2024 và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 25/9/2024, ông Võ Đức T là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L trình bày:

Ngân hàng N khởi kiện bà Phạm Thị G tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng và tiền lãi. Đối với số tiền nợ vốn hiện tại bà G còn nợ là 1.500.000.000 đồng thì bà G đồng ý trả nhưng do tình hình kinh tế khó khăn, bà G hiện chưa có khả năng thanh toán toàn bộ số nợ ngay lập tức, với thiện chí trả thì bà G đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho bà được trả dần khoản nợ trên chia thành 03 đợt, cụ thể:

  • Đợt 1 trả vào ngày 30/11/2024, bà G trả số tiền 500.000.000 đồng;
  • Đợt 2 trả vào ngày 28/02/2025, trả tiếp số tiền 500.000.000 đồng;
  • Đợt 3 trả phần nợ còn lại vào ngày 30/5/2025.

Đối với yêu cầu về nợ lãi trong hạn, các bên có thỏa thuận mức lãi suất theo quy định hiện hành và lãi suất cho vay trong từng thời kỳ tại khoản 1 Điều 7 của hợp đồng. Tính từ tháng 01/2024 đến hiện tại, theo quy định của Ngân hàng N1 về lãi suất cho vay thì mức lãi suất đối với hợp đồng vay có thế chấp tài sản là 6,5 % - 7,5 %/năm, tuy nhiên Ngân hàng lại yêu cầu tính mức lãi suất 11 %/năm là không phù hợp và ảnh hưởng đến lợi ích của bà G.

Đối với phần lãi suất quá hạn, ngoài việc yêu cầu bà G trả lãi quá hạn, Ngân hàng còn yêu cầu tiếp tục tính các khoản lãi trong đó có tính lãi chậm trả theo Hợp đồng tín dụng 7101/2018/018/BĐ/HĐTD ngày 20/3/2018, cụ thể tại mục 5 Điều 7 của Hợp đồng thỏa thuận: “Trường hợp khi đến kỳ hạn trả tiền theo thỏa thuận trên Hợp đồng tín dụng, nếu bên B không trả hoặc trả không đầy đủ và đúng hạn lãi tiền vay theo thỏa thuận thì Bên B phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất bằng 10%/năm tính trên số dư lãi tiền vay chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Việc thỏa thuận như vậy đồng nghĩa với việc Ngân hàng đã tính lãi trên nợ lãi, điều này là trái với quy định của P vì pháp luật không cho phép tính lãi trên nợ lãi, hơn nữa gây áp lực tài chính không hợp lý cho phía bà G. Do đó yêu cầu tính lãi quá hạn của phía Ngân hàng là không phù hợp.

4

Để đảm bảo quyền lợi cho bà G đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B, ghi nhận sự tự nguyện của bà G về thời gian trả nợ. Ông đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt theo quy định.

Do không tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

Căn cứ vào Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, 147, 227, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 100 và Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;

Các điều 463, 466, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N chi nhánh thành phố B.

Buộc bà Phạm Thị G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N chi nhánh thành phố B số tiền 1.696.305.942 (Một tỷ sáu trăm chín mươi sáu triệu ba trăm lẻ năm nghìn chín trăm bốn mươi hai) đồng, trong đó số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 182.404.109 đồng; lãi quá hạn 8.476.027 đồng, lãi chậm trả 5.425.806 đồng.

Buộc bà Phạm Thị G có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc, với mức lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi bà Phạm Thị G trả tất các khoản nợ vay cho Ngân hàng N chi nhánh B.

Trường hợp bà Phạm Thị G không trả hoặc trả không hết số nợ trên, Ngân hàng N chi nhánh thành phố B được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành số CM 416362, số vào sổ cấp giấy CS05003 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2018 thửa đất số 225, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.488,1m², địa chỉ thửa đất: xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp số 7101/2018/018/BĐ/HĐTC ngày 20/03/2018

5

và hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 7101/2023/028/BĐ/HĐSĐBS ngày 14/11/2023 để đảm bảo thu hồi nợ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10/10/2024, bà Phạm Thị G có đơn kháng cáo đề ngày 08/10/2024 yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 23/01/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre nhận được đơn xin giải quyết vắng mặt và văn bản trình bày ý kiến (v/v Tranh luận tại phiên tòa) đề ngày 21/01/2025 của người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Võ Đức T, yêu cầu chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị G, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với phần lãi suất chậm trả số tiền là 5.425.806 đồng. Ngày 10/02/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiếp tục nhận được đơn xin giải quyết vắng mặt của ông T nội dung giữ nguyên ý kiến đã nêu tại văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị G; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Phạm Thị G kháng cáo, thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

6

Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Phạm Thị G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Hoàng L là ông Võ Đức T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông Võ Đức T.

[2] Về nội dung:

Ngân hàng N yêu cầu giải quyết các yêu cầu khởi kiện như sau:

  • Buộc bà Phạm Thị G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi phát sinh đến ngày 26/9/2024 là: 1.696.305.942 đồng, trong đó số tiền gốc là: 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 182.404.109 đồng; lãi quá hạn 8.476.027 đồng, lãi chậm trả 5.425.806 đồng.
  • Buộc bà Phạm Thị G phải tiếp tục chịu lãi vay trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến ngày trả tất nợ vay tại Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng nêu trên.
  • Trường hợp bà Phạm Thị G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo các hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ vay gồm: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 225, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.488,1m², tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CM 416362, số vào sổ cấp GCN: CS05003 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2018 do bà Phạm Thị G đứng tên.

Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Ngày 10/10/2024, bị đơn bà Phạm Thị G có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại văn bản trình bày ý kiến (v/v tranh luận tại phiên tòa) đề ngày 21/01/2025 của ông Võ Đức T là người đại diện theo ủy quyền bị đơn có nội dung sửa đổi yêu cầu kháng cáo, cụ thể bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với phần lãi suất chậm trả số tiền là 5.425.806 đồng. Xét việc sửa đổi yêu cầu kháng cáo của bị đơn không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên được chấp nhận và xem xét giải quyết.

[2.2] Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng tín dụng số 7101/2018/018/BĐ/HĐTD ngày 20/3/2018; Kế hoạch

7

trả nợ của khách hàng theo hợp đồng tín dụng ngày 21/3/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7101/2018/018/BĐ/HĐTC ngày 20/3/2018 và hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 7101/2023/028/BĐ/HĐSĐBS ngày 14/11/2023 được ký kết giữa Ngân hàng với bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L; Giấy báo nợ đến hạn ngày 28/02/2024 và ngày 07/3/2024.

Xét Hợp đồng tín dụng số 7101/2018/018/BĐ/HĐTD ngày 20/3/2018; số tiền vay: 4.000.000.000 đồng. Dư nợ tại ngày 30/4/2024 là 1.500.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn vay: Sửa nhà tọa lạc tại xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, diện tích 300m² theo đơn xin sửa nhà ngày 19/3/2018; san lắp mặt bằng, xây hàng rào, bờ kè, mua sắm vật dụng gia đình. Thời hạn cho vay 96 tháng từ ngày 20/3/2018, hạn trả là ngày 22/3/2026. Lãi suất cho vay trong hạn: 11 %/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150 % lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10,0 %/năm. Về chủ thể giao kết hợp đồng, về mục đích và nội dung, hình thức của hợp đồng tín dụng đều tuân theo quy định tại khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng nên được xem là hợp pháp.

Tại văn bản trình bày ý kiến đề ngày 25/9/2024 cũng như văn bản trình bày ý kiến ngày 21/01/2025 của ông Võ Đức T là người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị G và ông Đỗ Hoàng L có nội dung bà G thừa nhận do khó khăn nên gặp trở ngại trong việc trả nợ đúng hạn, đối với số tiền nợ vốn hiện tại bà G còn nợ là 1.500.000.000 đồng thì bà đồng ý trả nhưng do tình hình kinh tế khó khăn, bà G đề nghị được trả dần khoản nợ trên chia thành 03 đợt. Như vậy, quá trình thực hiện hợp đồng, bà G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không trả nợ đúng hạn là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà G phải trả số tiền vốn và tiền lãi theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1.

Tại văn bản trình bày ý kiến đề ngày 25/9/2024, bị đơn cho rằng lãi suất cho vay 11 %/năm không phù hợp và lãi chậm trả 10 %/năm tính trên số dư lãi chậm trả trái quy định. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 21/01/2025, bị đơn cho rằng việc yêu cầu lãi chậm trả tính trên nợ lãi là trái quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Về nội dung này, căn cứ quy định Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay

8

của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định:

“1. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N1 có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.

...

4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả;

c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”

Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm quy định: “Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng xác lập kể từ ngày 01-01-2017 được xác định như sau:

a) Lãi trên nợ gốc, lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất giới hạn mà pháp luật quy định tương ứng với thời gian chậm trả lãi trên nợ gốc trong hạn.”

Như vậy, lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 7101/2018/018/BĐ/HĐTD ngày 20/3/2018 và yêu cầu tính lãi của Ngân hàng N

9

phù hợp quy định Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; Thông tư số 06/2023/TT-NHNN ngày 28/6/2023 của Ngân hàng N1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các điều 466, 468 Bộ luật Dân sự. Lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là không có căn cứ. Tính đến ngày 26/9/2024, bà G còn nợ số tiền là 1.696.305.942 đồng (trong đó nợ gốc là: 1.500.000.000 đồng; lãi trong hạn là: 182.404.109 đồng; lãi quá hạn là: 8.476.027 đồng, lãi chậm trả là 5.425.806 đồng) nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà G phải trả số tiền vốn và tiền lãi nêu trên cho Ngân hàng N là phù hợp, đúng quy định.

Bà G thống nhất thừa nhận nợ và đồng ý trả nợ, hợp đồng tín dụng được dùng làm căn cứ giải quyết vụ án, quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định trên cơ sở hợp đồng tín dụng, do đó yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà G phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 27/9/2024 cho đến khi tất nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết là có cơ sở.

Bà G yêu cầu được trả dần số tiền nợ chia thành 03 đợt: đợt 1 trả vào ngày 30/11/2024 số tiền 500.000.000 đồng; đợt 2 trả vào ngày 28/02/2025 số tiền là 500.000.000 đồng; đợt 3 vào ngày 30/5/2025 trả số tiền còn lại. Tuy nhiên, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý cho trả dần, Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận thời gian và phương thức trả nợ thuộc về giai đoạn thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, người khởi kiện là Ngân hàng N, không phải là Ngân hàng N - Chi nhánh thành phố B nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cách tuyên cho phù hợp.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

10

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị G.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Các Điều 463, Điều 466, Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.

Buộc bà Phạm Thị G có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng N số tiền 1.696.305.942 đồng (một tỷ, sáu trăm chín mươi sáu triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, chín trăm bốn mươi hai đồng), trong đó số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng); lãi trong hạn là 182.404.109 đồng (một trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm lẻ bốn nghìn, một trăm lẻ chín đồng); lãi quá hạn là 8.476.027 đồng (tám triệu, bốn trăm bảy mươi sáu nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng), lãi chậm trả là 5.425.806 đồng (năm triệu, bốn trăm hai mươi lăm nghìn, tám trăm lẻ sáu đồng).

Buộc bà Phạm Thị G có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc với mức lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi bà Phạm Thị G trả tất các khoản nợ vay cho Ngân hàng N.

Trường hợp bà Phạm Thị G không trả hoặc trả không hết số nợ trên, Ngân hàng N được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành số CM 416362, số vào sổ cấp giấy CS05003 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 06/02/2018 thửa đất số 225, tờ bản đồ số 14, diện tích 5.488,1m², địa chỉ thửa đất: xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp số 7101/2018/018/BĐ/HĐTC ngày 20/03/2018 và Hợp đồng sửa

11

đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 7101/2023/028/BĐ/HĐSĐBS ngày 14/11/2023 để đảm bảo thu hồi nợ.

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Bà Phạm Thị G phải nộp 62.889.178 đồng (sáu mươi hai triệu, tám trăm tám mươi chín nghìn, một trăm bảy mươi tám đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 30.260.000 (ba mươi triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002704 ngày 15/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

3. Án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Phạm Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005202 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND TP.Bến Tre;
  • - CCTHADS TP.Bến Tre;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2025/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 87/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hop dong tin dung giua Ngan hang N va Pham Thi G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger