Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 26-11-2024

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Lâm Giang.
  2. Ông Nguyễn Văn Kiểm.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại hội trường xét xử của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 79/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2024/QĐXXST- HS, ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Thân Văn N, sinh năm 1961; nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 04/10; con ông Thân Văn H và bà Nguyễn Thị H1 (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị N1, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024 đến ngày 10/7/2024, hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
  2. Thân Văn T, sinh năm 1960; nơi cư trú: thôn Q, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 07/10; con ông Thân Văn H và bà Quách Thị P (đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị T1, bị cáo có 04 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024 đến ngày 10/7/2024, hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).
  3. Trịnh Văn P1, sinh năm 1970; nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 07/10; con ông Trịnh Văn T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ là Nguyễn Thị T3, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2024 đến ngày 10/7/2024, hiện bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Thân Đức T4, sinh năm 1987 (vắng mặt);
  • + Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1970 (có mặt);
  • + Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1970 (có mặt);
  • + Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957 (có mặt);
  • Cùng địa chỉ: thôn Q, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
  • + Anh Lý Hải N2, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Ông Hoàng Công S1, sinh năm 1957; địa chỉ: thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1978; địa chỉ: thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Ông Dương Văn H2, sinh năm 1959; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Anh Nguyễn Văn S2, sinh năm 1973; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  • + Bà Thân Thị Đ, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
  • + Anh Ninh Văn D, sinh năm 1981; địa chỉ: thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Phạm Trường G, sinh năm 2006 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 17 giờ 55 phút ngày 04/7/2024, tại nhà Trịnh Văn P1, sinh năm 1970 tại thôn N, xã N, huyện T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trịnh Văn P1 có hành vi bán số lô, số đề cho Thân Đức T4 và Lý Hải N2. Quá trình bắt quả tang đã thu giữ:

  • - Số tiền 4.470.000 đồng; 02 (hai) chiếc bút; 01 tờ giấy màu trắng, kẻ xanh có ghi các chữ và số “2 cửa 28-120”; “Lô 37-30; 73-30; 78-20”; 01 tờ giấy màu trắng, có kẻ bảng bằng mực màu đen, một mặt có ghi các chữ và số: “ĐB 88 – 100; 38; 83;33/100”; “Lô 88-30”; “77+88-200; 88-89-500; 33-88-500” (là các tờ cáp lô, cáp đề bán cho Thân Đức T4 và Lý Hải N2); 01 (một) tờ giấy màu xanh, một mặt có ghi chữ “nô 37; 73/30 nghìn; 28 cân cứa; nô 78/20 nghìn”; 01 (một) tờ giấy màu trắng, có kẻ bảng bằng mực màu đen, một mặt có ghi các chữ và số: "ĐB 88 100; 38; 83;33/100”; “Lô 88- 30”; “77-88-200; 88-89-500; 33-88-500" ( là giấy ghi lại các số lô, số đề đã bán cho T4 và N2).

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Trịnh Văn P1, Thân Văn T, Thân Văn N, kết quả thu giữ:

  • - Tại nơi ở của Trịnh Văn P1: thu giữ trên bàn uống nước trong phòng ngủ của P1 01 chiếc điện thoại di động Nokia, màu đen.
  • - Tại nơi ở của Thân Văn T: thu giữ trên bàn đọc sách kê tại phòng ngủ của Thân Văn T: 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu xanh; 01 tờ giấy một mặt có in chữ “CÔNG TY CỔ PHẦN VNA- PHARH. PHIẾU TRÊN ĐĂNG KÝ THAM GIA”, mặt còn lại có ghi các ký tự chữ viết và số bằng mực màu đen, màu đỏ và màu xanh (ghi các số lô, số đề T mua của N và số lô, số đề T bán cho P1 sau đó chuyển cho N để hưởng chênh lệch); 03 chiếc bút.
  • - Tại nơi của Thân Văn N thu giữ: trong phòng ở trên tầng 2 sát cầu thang bên phải hướng từ dưới phòng khách đi lên gồm: 01 tờ giấy A4 một mặt có các chữ, số, ký tự bằng mực mầu đen và màu đỏ, một mặt màu trắng (ghi các số lô, số đề Nghiu bán cho khách); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 5G; 01 chiếc máy tính nhãn hiệu casio DF-120FM, 02 chiếc bút bi.

Kết quả kiểm tra điện thoại của Trịnh Văn P1: phát hiện tại mục nhật ký cuộc gọi có cuộc gọi đến số 0962935009, P1 khai là số điện thoại của T, P1 gọi đến số của T để mua số lô, số đề.

Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của T: tại ứng dụng “Zalo” phát hiện mục tin nhắn có lưu tên “B Ngưu” có các nội dung hình ảnh, tin nhắn ngày 04/7/2024 liên quan đến việc mua bán số lô, số đề.

Kết quả kiểm tra điện thoại thu giữ của N: kiểm tra điện thoại Samsung galaxy A13 phát hiện tại mục tin nhắn zalo tên “Thanh Thuy” có các tin nhắn ngày 04/7/2024 liên quan đến mua bán số lô, số đề. Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 5G không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi mua bán số lô, số đề.

Ngày 05/7/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định chữ số, chữ viết số trên các tờ giấy thu giữ được. Tại Bản kết luận số 1487/KL-KTHS ngày 08/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:

  1. Phòng K1 không kết luận đối với các chữ viết bị gạch xóa, sửa chữa trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A2, A4, A5, A6).
  2. Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3 trừ chữ viết bị sửa chữa trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2) so với chữ viết của Trịnh Văn P1 trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M17 đến M24) là do cùng một người viết ra.
  3. Chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A5, trừ các chữ viết bị gạch xóa sửa chữa) so với chữ viết của Thân Văn T trên các tài liệu mẫu ký hiệu từ M1 đến M8 là do cùng một người viết ra.
  4. Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A6 trừ các chữ viết bị gạch xóa sửa chữa) so với chữ viết của Thân Văn N trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M9 đến M16) là do cùng một người viết ra
  5. Chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A4) không phải là chữ viết của Thân Văn T, Thân Văn N, Trịnh Văn P1.

Ngày 10/7/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu trích xuất và khôi phục dữ liệu trong các điện thoại thu giữ được. Tại bản kết luận giám định số 1726/KL-KTHS ngày 07/8/2024 kết luận:

  1. Trích xuất và khôi phục được 55,6KB dữ liệu danh bạ, dữ liệu tin nhắn SMS và dữ liệu nhật ký cuộc gọi lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N1280, màu đen-xám, số kiểu máy: RM-647, số xê-ri: 359045047187838 gửi giám định.
  2. Trích xuất và khôi phục được 5,63GB dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Facebook, Z, dữ liệu danh bạ, dữ liệu nhật ký cuộc gọi, dữ liệu đa phương tiện lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A13, màu ghi, kiểu thiết bị: SM-A135F/DS, số sê-ri: R58T349J32R; số IMEI1: 354690577913429; số IMEI2 355864867913428 gửi giám định.
  3. Trích xuất và khôi phục được 3,43GB dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Facebook Messenger, Z, dữ liệu danh bạ, dữ liệu nhật ký cuộc gọi, dữ liệu đa phương tiện lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 5G, màu đen, kiểu thiết bị: SM-A236E/DSN, số sê-ri: R5CW12T6GQN; số IMEI1: 351084830874417; số IMEI2: 351677550874416 gửi giám định.
  4. Trích xuất và khôi phục được 2,42GB dữ liệu tin nhắn SMS, tin nhắn từ ứng dụng Facebook Messenger, Z, dữ liệu danh bạ, dữ liệu nhật ký cuộc gọi, dữ liệu đa phương tiện lưu trữ trong 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A55, màu xanh, kiểu máy: CPH2325, số sê-ri: IVLBUKL7MNQ8S4ZL; số IMEI1: 867143061489076; số IMEI2: 867143061489068 gửi giám định.

1. Hành vi đánh bạc của Trịnh Văn P1:

Ngày 04/7/2024, P1 bị bắt quả tang trước khi có kết quả xổ số miền B. P1 bán số lô, số đề cho các đối tượng sau:

  • - P1 bán cho Thân Đức T4 số đề hai cửa ở giải đặc biệt và nhất to số tiền 240.000 đồng; Số lô 50 điểm x 23.000 đồng = 1.840.000 đồng. Tổng số tiền Phương bán số lô, số đề cho T4 là 2.080.000 đồng. T4 trả cho P1 2.180.000 đồng trong đó có 2.080.000 đồng là tiền T4 trả mua số lô, số đề 100.000 đồng T4 trả tiền bia. P1 đã chuyển toàn bộ số lô, đề và báo số tiền bán số lô, đề của T4 cho T.
  • - P1 bán cho Lý Hải N2 số đề ở giải đặc biệt số tiền 400.000 đồng; Số lô số tiền là 30 điểm x 23.000 đồng = 690.000 đồng; Lô xiên số tiền là 1.200.000 đồng, tổng số tiền Phương bán số lô, số đề cho N2 là: 2.290.000đồng. N2 đã thanh toán đủ cho P1 số tiền 2.290.000 đồng. P1 chưa kịp chuyển cho T thì bị bắt.
  • - Ngoài ra, P1 mua của T số lô 33, 55, 88, 22 mỗi số 15 điểm, tổng là 60 điểm x 23.000 đồng = 1.380.000 đồng; mua số đề 28 đánh hai cửa, mỗi cửa 30.000 đồng, tổng là 60.000 đồng; Số đề 55, 66, 09 mỗi số 50.000 đồng, tổng là 150.000 đồng, số đề 3 càng 455 là 50.000 đồng. Tổng số tiền Phương mua số lô, số đề của T là 1.640.000 đồng. Giữa P1 và T chưa thanh toán tiền cho nhau.

Tổng số tiền Phương đánh bạc trong ngày 4/7/2024 là: 6.010.000đồng. P1 đã thu được tổng số tiền bán số lô, số đề là: 4.370.000 đồng.

2. Hành vi đánh bạc của Thân Văn T:

Ngày 4/7/2024, T tổng hợp các số lô, số đề T bán cho P1 và các số lô, số đề T tự chơi sau đó sử dụng tài khoản Zalo có tên “Thạch Thủy” gửi hình ảnh các số lô số đề vào tài khoản zalo “B Nghiu” cho Thân Văn N. Ngày 04/7/2024, T đầu thú sau khi có kết quả xổ số miền B nên số tiền đánh bạc của T như sau:

  • - Thạch bán cho P1 số đề ở giải đặc biệt số tiền 200.000 đồng. Số lô 140 điểm x 23.000 đồng = 3.220.000 đồng; số đề đặc biệt hai cửa số tiền 300.000 đồng. Tổng số lô, số đề T bán cho P1 là 3.720.000 đồng.
  • - Thạch tự mua các số lô, số đề của Thân Văn N như sau:
  • Số đề đặc biệt, nhất to số tiền là 2.940.000 đồng. Giá đề mua T mua của N với giá 84 %, số tiền đề T phải trả cho N là 2.469.600 đồng.
  • Số lô: 30 điểm x 22.000 đồng = 660.000 đồng.

Sau khi xem kết quả xổ số miền B, T trúng thưởng số đề đầu 2, đít 2, số 22 tổng số tiền trúng là 3.360.000 đồng; Số lô trúng thưởng là 75 điểm x 80.000 đồng = 6.000.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 9.360.000 đồng.

Trong ngày 04/7/2024, tổng số tiền đánh bạc của T là: 16.209.600 đồng. Giữa Thạch, P1 và N chưa thanh toán tiền cho nhau.

3. Hành vi đánh bạc của Thân Văn N:

Ngày 04/7/2024, Thân Văn N bán số lô, số đề cho Thân Văn T qua tài khoản zalo, ngoài ra N còn bán số lô số đề cho khách trực tiếp đến mua. Ngày 04/7/2024, N đầu thú sau khi có kết quả xổ số miền B nên số tiền đánh bạc của N như sau:

  • - Nghiu bán cho Thân Văn T số đề đặc biệt, nhất to, hai cửa tổng số tiền là 2.889.600 đồng. Nghiu bán số lô cho T tổng số 170 điểm lô x 22.000 đồng = 3.740.000 đồng. Tổng số số, số đề N bán cho T là 6.629.600 đồng. Sau khi xem kết quả xổ số miền B, trúng thưởng số đề đầu 2, đít 2, số 22 tổng số tiền trúng là 3.360.000 đồng; Số lô trúng thưởng là 75 điểm x 80.000 đồng = 6.000.000 đồng. Tổng số tiền trúng thưởng là 9.360.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N với T là 15.989.600 đồng.
  • - Nghiu bán số lô, số đề trực tiếp cho khách là: Nghiu bán số đề ở giải đặc biệt, nhất to, hai cửa tổng số tiền 4.150.000 đồng. Nghiu bán số lô cho khách tổng số 442 điểm x 23.000 đồng = 10.166.000 đồng. Sau khi xem kết quả xổ số miền B trúng thưởng số đề 22 và kép bằng số 22, tổng số tiền là 2.000.000 đồng. Trúng thưởng 88 điểm lô = 7.040.000 đồng. Tổng số tiền N đánh bạc với khách là 23.356.000 đồng.

Trong tổng số tiền 23.356.000 đồng Nghiu đánh bạc với khách, Cơ quan điều tra đã xác định được Nghiu bán cho các khách sau:

  • - Nghiu bán số lô cho Ninh Văn D tổng số tiền 230.000đồng. So sánh với kết quả xổ số Diễn trúng thưởng số tiền 400.000đồng. D đã trả Nghiu số tiền 230.000đồng. Số tiền trúng thưởng N chưa thanh toán tiền cho D.
  • - Nghiu bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn T5 số tiền là 3.020.000đồng. So sánh với kết quả xổ số T5 không trúng. T5 đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số đề cho Dương Văn H2 tổng số tiền là 50.000đồng. So sánh với kết quả xổ số H2 không trúng. H2 đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số lô, số đề cho Hoàng Văn B tổng số tiền 500.000đồng. Sau khi xem kết quả xổ số miền B1 trúng thưởng số tiền 1.200.000 đồng. B đã trả N số tiền 500.000 đồng, N chưa trả tiền trúng thưởng cho B.
  • - Nghiu bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn S2 số tiền là 810.000đồng So sánh với kết quả xổ số S2 không trúng. S2 đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số lô cho Nguyễn Văn S số tiền là 460.000đồng. So sánh với kết quả xổ số Sai không trúng. Sai đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số đề cho Hoàng Công S1 số tiền là 330.000đồng. So sánh với kết quả xổ số Sung không trúng. Sung đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số đề cho Nguyễn Văn K số tiền là 95.000đồng. So sánh với kết quả xổ số K không trúng. K đã thanh toán tiền cho N.
  • - Nghiu bán số lô, số đề cho Thân Thị Đ số tiền là 395.000đồng. So sánh với kết quả xổ số Đượm không trúng. Đượm đã thanh toán tiền cho N.
  • - Ngoài ra còn một số người không quen mua số lô, số đề của N. Nghiu không biết cụ thể họ tên tuổi địa chỉ của những người này. Những người này đều chưa thanh toán tiền cho N.

Trong ngày 04/7/2024, Nghiu đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là: 39.345.600 đồng. Số tiền N đã nhận là 5.030.000đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên đã truy tố các bị cáo Thân Văn N, Thân Văn T, Trịnh Văn P1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố là đúng. Khi luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thân Văn N từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thân Văn T từ 10 tháng đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền10.000.000đồng.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Văn P1 từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đồng.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.

Áp dụng áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 4.370.000 đồng thu giữ của P1; 01 chiếc điện thoại di động N4 lắp sim số 0907.721.468 thu giữ của P1; 01 điện thoại di động OPPO; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 lắp sim số 0565.723.774; 01 chiếc máy tính nhãn hiệu casio DF-120FM.

Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu S3; trả lại cho bị cáo P1 số tiền 100.000 đồng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Truy thu của P1 số tiền 1.640.000 đồng. Truy thu của T số tiền 3.129.600 đồng. Truy thu của N số tiền 5.030.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) chiếc bút thu của P1; 03 chiếc bút thu giữ của T; 02 chiếc bút bi thu giữ của Nghiu

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Những người này đều đã có lời khai, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt những người này.

[3]. Xác định tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi, cách thức các bị cáo đánh bạc phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định:

3.1. Hành vi khách quan:

Vào hồi 17 giờ 55 phút ngày 04/7/2024, tại thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, Trịnh Văn P1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Thân Đức T4, Lý Hải N2 và Thân Văn T với tổng số tiền đánh bạc là 6.010.000 đồng.

Ngày 04/7/2024, sau khi T bán cho P1 các số lô, số đề, với tổng số tiền là 3.720.000 đồng, T tự chơi thêm các số lô, số đề với tổng số tiền là 3.129.600 đồng rồi chuyển vào tài khoản zalo “B Nghiu” cho Thân Văn N ở thôn Q, xã N, huyện T, T trúng thưởng 9.360.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với P1 và N là 16.209.600 đồng.

Ngày 04/7/2024, Thân Văn N bán các số lô, số đề qua tài khoản zalo cho Thân Văn T với tổng số tiền là 6.629.600 đồng, trúng thưởng là 9.360.000 đồng, như vậy số tiền đánh bạc của Nghiu với T là 15.989.600 đồng. Ngoài ra, N bán số lô, số đề trực tiếp cho khách tại nhà ở thôn Q, xã N, huyện T với số tiền là 14.316.000 đồng, trúng thưởng 9.040.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc với khách là 23.356.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của N với T và khách dưới hình thức mua bán số lô, số đề tổng số tiền là 39.345.600 đồng.

3.3. Mặt chủ quan:

Xác định lỗi: Các bị cáo nhận thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện, nên xác định là lỗi cố ý. Nguyên nhân, động cơ phạm tội: Các bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi cá nhân.

3.3. Chủ thể của tội phạm:

Khi thực hiện hành vi các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm Hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

3.4. Khách thể của tội phạm:

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là trật tự xã hội được pháp luật Hình sự bảo vệ.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của các bị cáo Thân Văn N, Thân Văn T, Trịnh Văn P1 vào ngày 04/7/2024 đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng.

[4]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đánh bạc có đồng phạm dưới hình thức đồng phạm giản đơn. Bị cáo N giữ vai trò cao nhất vì có số tiền đánh bạc nhiều nhất, tiếp theo là bị cáo T và bị cáo P1 lần lượt có số tiền đánh bạc thấp hơn.

[5]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Thân Văn T và Thân Văn N đầu thú, bị cáo Trịnh Văn P1 có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, mẹ bị cáo là người có công được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất. Nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6]. Hình phạt chính: Các bị cáo đều phạm tội ít nghiêm trọng, có chỗ ở, công việc ổn định, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự. Cả 03 bị cáo đều có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, không cần thiết buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo nhằm tạo cơ hội cho các bị cáo được tự cải tạo thành công dân tốt, thành người có ý thức chấp hành pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Số tiền 4.370.000 đồng thu giữ của P1 là do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; số tiền 100.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

01 chiếc điện thoại di động N4, thu giữ của P1; 01 điện thoại di động OPPO thu giữ của T; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 và 01 chiếc máy tính nhãn hiệu casio DF-120FM thu giữ của N. Đều là công cụ phạm tội của các bị cáo nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 02 chiếc bút thu của P1; 03 chiếc bút thu giữ của T, 02 chiếc bút bi thu giữ của N là công cụ phạm tội nhưng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Cần truy thu số tiền đánh bạc và số tiền hưởng lợi từ việc đánh bạc. Tổng số tiền truy thu bằng số tiền các bên thỏa thuận mua số lô số đề.

[8]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo N, T là người cao tuổi, được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326; bị cáo P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9]. Về các vấn đề khác: Thân Đức T4, Lý Hải N2, Ninh Văn D, Nguyễn Văn T5, Dương Văn H2, Hoàng Văn B, Nguyễn Văn S2, Nguyễn Văn S, Hoàng Công S1, Nguyễn Văn K, Thân Thị Đ có hành vi đánh bạc nhưng chưa đủ để xử lý hình sự. Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thân Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Phạt bổ sung bị cáo số tiền 12.000.000VNĐ (mười hai triệu đồng).
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thân Văn T 11 (mười một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 22 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000VNĐ (mười triệu đồng).
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Văn P1 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000VNĐ (mười triệu đồng).

Giao các bị cáo Thân Văn N, Thân Văn T, Trịnh Văn P1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước: số tiền 4.370.000đồng và 01 chiếc điện thoại di động N4 lắp sim số 0907.721.468; 01 điện thoại di động OPPO, số IMEI 1: 867143061489076; số IMEI 2: 867143061489068; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A13 có số IMEI1: 354690577913429, số IMEI2 355864867913428 lắp sim số 0565.723.774 và 01 chiếc máy tính nhãn hiệu casio DF-120FM.
  • Trả lại Trịnh Văn P1 số tiền 100.000 đồng; trả lại Thân Văn N3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 có số IMEI 1: 351084830874417, số IMEI 2: 351677550874416. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) chiếc bút.
  • Truy thu: Trịnh Văn P1 số tiền 1.640.000đồng; Thân Văn N 5.030.000đồng; Thân Văn T số tiền 3.129.600đồng.

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Thân Văn N và Thân Văn T. Trịnh Văn P1 phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - CA huyện Tân Yên;
  • - THADS huyện Tân Yên;
  • - UBND xã Ngọc Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Thân Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger