Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHI LỘC

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Vinh và ông Lê Quang Hòa

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Hoàng Thắng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 21 tháng 11 năm 2024 và ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; các điểm cầu thành phần: Trại tạm giam công an tỉnh T, Toà án nhân dân Thành phố Hải Phòng, Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 và Thông báo thời gian tuyên án ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 30/8/1970 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Đào Văn Đ, sinh năm 1947. Họ tên mẹ: Phan Thị M, sinh năm 1949. Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất. Họ và tên vợ: Hồ Thị Phương H, sinh năm 1975. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008. Tiền án, Tiền sự: không

Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47/QĐ-XPVPHC ngày 08/6/2018 của Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi “Khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp chứng minh nhân dân”, chưa thi hành. Nhân thân: - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 216/QĐ-XPVPHC ngày 26/9/2022 của Công an huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc – đã chấp hành nộp phạt.

- Tại Bản án số 219/2023/HSST ngày 23/9/2023, bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm 03 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Ngày 01/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố bị cáo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án này tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T.

2. Họ và tên: Hồ Đình T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 06/6/1979 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Hồ Đình T2, sinh năm 1940. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1947. Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Họ và tên vợ: Quang Thị X, sinh năm 1980. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012. Tiền sự, Tiền án: Không.

Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPHC ngày 14/12/2021 của Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc – đã chấp hành nộp phạt.

- Ngày 01/8/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T khởi tố bị cáo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo hiện đang bị tạm giam trong vụ án này tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T.

Người bào chữa cho chị cáo Đào Văn T, Hồ Đình T1: Ông Nguyễn Cao T3 và ông Trần Thanh M1 – Luật sư văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh N. (Có mặt)

Bị hại:

1. Công ty cổ phần Đ1

Địa chỉ: số A, đường T, phường T, quận L, Thành phố Hải Phòng.

Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Đình T4 – chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần H2, sinh năm 1961

Địa chỉ: số A, phố H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.

(Ông T4 vắng mặt, ông H2 có mặt)

2. Anh Trần Viết D, sinh năm 1981. Địa chỉ: thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Thái Mạnh H3, sinh năm 1973. Địa chỉ: xóm A H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

2. Ông Trần H2, sinh năm 1961

Địa chỉ: số A, phố H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có mặt)

3. Anh Nguyễn Đình M2, sinh năm 1981. Địa chỉ: B, đường H, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng. (Có mặt)

4. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1961. Địa chỉ: khối A, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt phiên xử, vắng mặt phiên tuyên án)

Người làm chứng: Ngân hàng N – Chi nhánh huyện N. Người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Xuân D1 – chức vụ: Giám đốc. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần G (trước đây là Công ty Cổ phần G1) có địa chỉ tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, được thành lập và đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần lần đầu vào ngày 09/01/2004 có mã số doanh nghiệp là 2900578799 và đăng ký thay đổi lần thứ 13 vào ngày 18/9/2018 do Đào Văn T làm Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật. Ngày 24/01/2019, Công ty Cổ phần G1 (Công ty V) đăng ký thay đổi lần thứ 14, thay đổi Giám đốc, người đại diện theo pháp luật từ Đào Văn T thay đổi sang Hồ Đình T1 làm Giám đốc, đại diện theo pháp luật của Công ty. Đến ngày 10/4/2019, Công ty V tiếp tục đăng ký thay đổi lần thứ 15, thay đổi tên từ Công ty Cổ phần G1 thành Công ty Cổ phần G (Công ty G), do Hồ Đình T1 làm Giám đốc, người đại diện theo pháp luật, Đào Văn T làm Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch HĐQT).

Ngày 19/9/2011, Đào Văn T (thời điểm này đang làm Giám đốc) đại diện Công ty G1 vay của Ngân hàng N, chi nhánh huyện N, tỉnh Nghệ An (Ngân hàng A) số tiền 9.000.000.000 đồng (Chín tỷ đồng) bằng các Hợp đồng tín dụng số [...]/HĐTD ngày 19/9/2011 (vay 4.500.000.000 đồng) và Hợp đồng tín dụng số [...]/HĐTD ngày 29/9/2011 (vay 4.500.000.000 đồng). Để đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng tín dụng số [...]/HĐTD ngày 29/9/2011, Công ty G1 đã thế chấp toàn bộ tài sản hữu hình trên đất trong khuôn viên của công ty G2 liền với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số Y652387 do Ủy ban nhân dân tỉnh N cấp ngày 15/3/2004 và 02 GCNQSDĐ của người thân theo Hợp đồng thế chấp tài sản số [...] ngày 29/9/2011 (Bút lục: 298, 299; 300-307). Năm 2014, mặc dù trên giấy tờ Công ty G1 vẫn đang đăng ký hoạt động, chưa giải thể. Nhưng trên thực tế, do làm ăn thua lỗ nên Công ty G1 đã ngừng hoạt động và đóng mã số thuế . Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên đối với Ngân hàng A, Công ty G1 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận ghi nhận trong hợp đồng, nên ngày 25/11/2016, Ngân hàng A đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Tại Bản án số 04/2019/KDTM-ST ngày 30/9/2019 của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc và tại Bản án số 03/2020/KDTM-PT ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên: Buộc Công ty Cổ phần G (trước đây là Công ty G1) phải trả toàn bộ số tiền nợ cho Ngân hàng A số tiền là 18.649.006.808 đồng (Mười tám tỷ, sáu trăm bốn mươi chín triệu không trăm linh sáu nghìn tám trăm linh tám đồng). Nếu không trả được nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự (THADS) phát mại toàn bộ tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

Trong thời gian thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Mặc dù Đào Văn T và Hồ Đình T1 biết rõ toàn bộ tài sản hữu hình có trong khuôn viên của Công ty G không được bán cho người khác và sẽ bị kê biên toàn bộ tài sản đã được thế chấp để bán đấu giá tài sản khi không trả được số tiền nợ cho Ngân hàng A. Nhưng do cần tiền để trả nợ và tiêu xài cá nhân, Đào Văn T đã dùng lý do hợp tác đầu tư để lừa bán các tài sản của Công ty G đang thế chấp cho Ngân hàng A nhằm chiếm đoạt tiền đặt cọc. Trong năm 2020 và năm 2021, Đào Văn T đã chỉ đạo Hồ Đình T1 ký kết các hợp đồng lừa bán các tài sản đã được thế chấp tại Ngân hàng A cho người khác để chiếm đoạt số tiền đặt cọc, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Vào khoảng đầu tháng 10/2020, thông qua giới thiệu của bạn bè nên anh Trần H2 (sinh năm 1961, trú tại phố H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định), là Trưởng Phòng Kế hoạch Đầu tư Công ty Cổ phần T7, xuất nhập khẩu, khai thác khoáng sản Đ1 (Công ty Đ1) có gặp và quen biết với Đào Văn T là Chủ tịch HĐQT Công ty G. Trong thời gian này, Công ty G làm ăn thua lỗ đã ngừng hoạt động và đóng mã số thuế từ năm 2014 và do nợ nần cá nhân nhiều nên T tìm cách kiếm tiền để trả nợ. Sau khi gặp nhau, T nói với anh H2 rằng: “Hiện tại có dự án cải tạo nâng cấp nhà máy gạch và tài sản trên đất của nhà máy tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, các anh nếu đầu tư và mua tài sản trên đất thì đặt cọc tiền” (thực chất dự án này không được các cấp có thẩm quyền cấp giấy phép, là dự án không có thật). Khi nghe T giới thiệu, anh H2 về báo cáo với ông Nguyễn Đình T4 (sinh năm 1950, trú tại T, quận L, thành phố Hải Phòng), là Chủ tịch HĐQT của Công ty Đ1, có địa chỉ tại số A, đường T, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng thì ông T4 đồng ý. Đến ngày 10/10/2020, ông T4 cùng với anh H2 đi vào Công ty G ở xóm A xã N, huyện N để khảo sát. Đến ngày 12/10/2020, ông T4 và anh H2 tiếp tục vào Công ty G gặp Đào Văn T, Hồ Đình T1 để tiếp tục khảo sát. Quá trình này, 02 bên thống nhất ký kết Hợp đồng thi công cải tạo nâng cấp xây dựng Nhà máy gạch ngói Sông L và Hợp đồng kinh tế về việc mua bán các tài sản là các thiết bị, máy móc, nhà xưởng cũ... của Công ty G. Sau đó, ông Nguyễn Đình T4, anh Trần H2 cùng với Đào Văn T, Hồ Đình T1 và Thái Mạnh H3 (sinh năm 1973, trú tại xóm A, xã N, huyện N, được T thuê làm bảo vệ của Công ty G, H3 không tham gia, không biết hành vi lừa đảo của T, T1 và việc ký kết hợp đồng giữa hai bên) cùng đi đến nhà hàng thuộc xóm Đ, xã N, huyện N để ăn uống và ký kết hợp đồng. Tại đây, ông Nguyễn Đình T4, đại diện Công ty Đ1 và Hồ Đình T1, đại diện Công ty G đã ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/2020/HĐKT-TP/GNSL về việc mua bán toàn bộ máy móc, thiết bị, nhà xưởng cũ của Nhà máy gạch ngói Sông Lam, gồm các tài sản: 01 máy đào nhùn, 02 máy cán, 03 máy hút chân không, 68 xe gòong, 68m đường ray, 01 ống khói, 10.000m² khung sắt nhà xưởng và toàn bộ máy móc thiết bị, nhà xưởng cũ đã qua sử dụng (Công ty Đ1 không biết những tài sản này đã được thế chấp cho Ngân hàng A) với giá bán là 700.000.000 (Bảy trăm triệu đồng) và Hợp đồng kinh tế số 18/2020/HĐKT-GNSL về việc thi công xây dựng công trình nâng cấp cải tạo Nhà máy gạch ngói Sông L. Đối với Hợp đồng kinh tế số 16/2020/HĐKT-TP/GNSL, Công ty G yêu cầu Công ty Đ1 phải đặt cọc trước số tiền 300.000.000 đồng, số tiền còn lại thanh toán sau khi hoàn thành hợp đồng.

Ngày 14/10/2020, Công ty Đ1 đã chuyển số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng, từ tài khoản số 2511199888888 Ngân hàng Quân đội, mang tên Công ty Cổ phần Đ1 chuyển đến tài khoản số 10156682195, ngân hàng S, chi nhánh B1, thành phố Hà Nội, là tài khoản của Công ty G theo như nội dung của Hợp đồng kinh tế số 16 đã ký kết. Ngày 14/10/2020, Đào Văn T đã sử dụng giấy Ủy nhiệm chi mà Hồ Đình T1 đã ký sẵn (ký khống), để rút số tiền 300.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của Công ty G tiêu xài cá nhân hết. Sau đó T tiếp tục vay riêng cá nhân ông Nguyễn Đình T4 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) vào 02 lần (lần 1 là 20.000.000 đồng và lần 2 là 5.000.000 đồng), đây là khoản vay cá nhân giữa T và ông T4, không liên quan đến hành vi lừa đảo của T và T1.

Sau khi nhận được tiền, Công ty G đã không bàn giao tài sản theo như HĐKT số 16 ngày 12/10/2020 đã ký kết với Công ty Đ1 mặc dù Công ty Đ1 đã nhiều lần yêu cầu. Đến khoảng tháng 4/2021, sau khi biết được số tài sản mà Công ty G ký kết trong HĐKT số 16 bán cho Công ty Đ1 đã được thế chấp để đảm bảo khoản vay 4.500.000.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm triệu đồng) tại Ngân hàng A, nên Công ty Đ1 đã yêu cầu Công ty G trả lại toàn bộ số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, Đào Văn T, Hồ Đình T1 lấy lý do để khất nợ nhiều lần, không nghe máy điện thoại, không hợp tác. Đến ngày 27/02/2023, ông Nguyễn Đình T4, Chủ tịch HĐQT Công ty Đ1 đã tố cáo Đào Văn T và Hồ Đình T1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nghệ An để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ hai:

Vào năm 2013 và năm 2014, Đào Văn T có vay của chị Bùi Thị B (sinh năm 1961, trú tại khối A, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) tổng số tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Do Công ty G (trước đây là Công ty Cổ phần G1) làm ăn thua lỗ và đã đóng mã số thuế nên T không có tiền trả nợ cho chị B. Năm 2018, T hứa hẹn sẽ cho chị B một ít cổ phần của T trong Công ty G. Đến năm 2020, khi chị B tiếp tục đòi nợ thì T nói chưa có tiền trả và để có tiền trả nợ, T đã nói với chị B tìm người mua các tài sản cũ của Công ty G để giới thiệu cho T bán, chị B nhất trí. Đến năm 2021, thông qua bạn bè chị B có quen biết với anh Trần Viết D (sinh năm 1981, trú tại thôn H, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Sau đó, khi biết anh D có nhu cầu mua phế liệu cũ nên chị B đã giới thiệu anh D gặp Đào Văn T. Cũng với thủ đoạn như trên, do cần tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân, T đã trao đổi qua điện thoại với anh D thì anh D nhất trí mua toàn bộ phế liệu trên đất trong khuôn viên Công ty G bao gồm: nhà xưởng, thiết bị, máy móc cũ với giá bán là 750.000.000 đồng (những tài sản này đã được thế chấp cho Ngân hàng A và đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên kê biên, phát mại, bán đấu giá tài sản để trả nợ cho ngân hàng). Sau khi thống nhất, ngày 29/01/2021, T gọi điện thoại chỉ đạo Hồ Đình T1 đi ra thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An để ký hợp đồng mua bán phế liệu với anh D và nhận tiền đặt cọc bảo lãnh hợp đồng là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), T1 nhất trí. Sau khi gặp nhau, T1 cùng anh D và chị B vào quán C ở khối A, thị trấn C, huyện Q để ký kết hợp đồng. Tại đây, T1 và anh D đã ký kết Hợp đồng mua bán phế liệu số 01/HĐMB, với nội dung: mua toàn bộ số phế liệu, nhà xưởng cũ... trong khuôn viên Công ty G, có giá là 750.000.000 đồng. Sau khi ký kết xong hợp đồng, anh D đã đặt cọc trước số tiền 100.000.000 đồng và chuyển số tiền 100.000.000 đồng từ số tài khoản 0201000649483, Ngân hàng TMCP N1 (V1) vào tài khoản số [...] Ngân hàng TMCP C1 (V2) mang tên Bùi Thị B. Sau khi nhận được tiền, chị B đã cùng T1 sang ngân hàng đối diện quán C để rút toàn bộ 100.000.000 đồng tiền mặt. Do trước đó T có trao đổi với chị B là sẽ trả cho chị B 10.000.000 đồng tiền lãi của khoản tiền T vay nên khi rút tiền chị B giữ lại số tiền lãi 10.000.000 đồng và đưa cho T1 số tiền 90.000.000 đồng, số tiền này vào ngày 31/01/2021 T1 đã đưa lại cho T. Khi nhận tiền từ anh D xong, T1 viết 01 phiếu thu với nội dung: “Đặt cọc tiền mua sắt vụn, số tiền 100.000.000 đồng, loại tiền mặt và chuyển khoản 50.000.000 đồng sau hai ngày ký”, rồi đưa phiếu thu cho anh D cầm. Sau đó, anh D tiếp tục chuyển cho chị B số tiền 30.000.000 đồng (tiền anh D tự nguyện cho chị B vì chị B đã giới thiệu cho anh D mua phế liệu, hiện nay chị B đã trả lại cho anh D). Quá trình này, chị B đều không biết hành vi lừa đảo của T và T1, không biết các tài sản ký kết trong hợp đồng mua bán giữa hai bên đã được Công ty G thế chấp ngân hàng, mục đích của chị B chỉ là giới thiệu để T bán được tài sản để T trả tiền nợ và lãi suất cho mình. Đối với số tiền đặt cọc còn lại là 50.000.000 đồng, ngày 02/02/2021 anh D đã gửi vào số tài khoản số 1015682195 Ngân hàng S chi nhánh B1, Hà Nội của Công ty G. Số tiền này, T sử dụng Giấy ủy nhiệm chi mà T1 đã ký sẵn (ký khống) để ra ngân hàng rút tiền. Toàn bộ số tiền 140.000.000 đồng, T đã lấy và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi nhận được tiền đặt cọc, Công ty G đã không bàn giao tài sản theo như Hợp đồng mua bán phế liệu số 01/HĐMB ngày 29/01/2021 đã ký kết với anh Trần Viết D. Anh Dũng đã nhiều lần yêu cầu Công ty G thực hiện theo hợp đồng đã ký kết nhưng Công ty G đều không thực hiện. Do không liên lạc được với T, ngày 05/01/2024, anh D đã đến Công an huyện N để trình báo thì mới biết các tài sản trong hợp đồng mua bán phế liệu đã được Công ty G thế chấp cho Ngân hàng A và đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên kê biên, phát mại, bán đấu giá tài sản để trả nợ cho ngân hàng.

Như vậy, vào ngày 12/10/2020 và ngày 29/01/2021, Đào Văn T đã chỉ đạo Hồ Đình T1 lừa Công ty Đ1, do ông Nguyễn Đình T4 làm Chủ tịch HĐQT ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/2020/HĐKT-TP/GNSL ngày 12/10/2020 về việc mua bán toàn bộ máy móc, thiết bị, nhà xưởng cũ của Công ty G để chiếm đoạt số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và lừa anh Trần Viết D ký kết Hợp đồng mua bán phế liệu số 01/HĐMB ngày 19/01/2021 để chiếm đoạt số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Tổng số tiền mà T và T1 đã lừa đảo chiếm đoạt của những người bị hại là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Ngày 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trưng cầu giám định chữ ký đối với các Hợp đồng đã ký kết giữa Công ty Đ1 và Công ty G. Tại Bản kết luận giám định số 08/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 03/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Chữ ký mang tên Hồ Đình T1 dưới mục “ĐẠI DIỆN BÊN A” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; chữ ký mang tên Hồ Đình T1 dưới mục “ĐẠI DIỆN CHỦ ĐẦU TƯ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký của Hồ Đình T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M9 là do một người ký ra".

Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trưng cầu giám định chữ ký đối với Hợp đồng mua bán phế liệu giữa anh Trần Viết D và Công ty G. Tại Bản kết luận giám định số 242/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 19/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Chữ ký mang tên Hồ Đình T1 dưới mục “THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; chữ ký mang tên Hồ Đình T1 dưới mục “BÊN A (BÊN BÁN)” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký của Hồ Đình T1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M12 là do một người ký ra”.

Tại Công văn số 73/NHNoNL-TH ngày 08/5/2023 của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện N trả lời: Danh mục các tài sản thế chấp của Công ty CP G thế chấp với Ngân hàng A1 chi nhánh huyện N gồm: “... 7. Nhà xưởng và toàn bộ tài sản hữu hình trên đất thuộc Công ty CP G tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Ngân hàng A1 chi nhánh huyện N, tỉnh Nghệ An chưa từng đồng ý cho Công ty Cổ phần G tự bán tài sản đã thế chấp tại A1 chi nhánh huyện N, Nghệ An”

Tại Quyết định số 4325/QĐ.UBND-XD ngày 31/10/2012 của UBND tỉnh N về phê duyệt Đề án phát triển gạch xây không nung trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2020, với nội dung: “...b) Lò nung gạch T5 được phép tồn tại theo quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng của tỉnh. Quan điểm chung là không mở rộng, không cấp phép các dự án đầu tư mới, không gia hạn hoạt động của các lò nung tuynel tại khu vực đồng bằng, thành phố, thị xã, thị trấn gần khu dân cư, gần khu canh tác nông nghiệp”.

Công văn số 4565/SXD-KT&VLXD ngày 08/12/2023 của Sở X1 xác định: “Từ năm 2019 đến nay Sở X1 không tham mưu cho UBND tỉnh N ra chủ trương thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp nhà máy G3 công suất 80 triệu viên/năm; Không thẩm định, phê duyệt hồ sơ Dự án cho Công ty CP G...”.

Kết quả xác minh tại UBND huyện N, tỉnh Nghệ An: Từ năm 2019 đến nay UBND huyện N không quản lý, không có dự án cải tạo, nâng cấp nhà máy G3 công suất 80 triệu viên/năm, địa chỉ tại xóm A xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cho Công ty Cổ phần G.

Ngày 23/02/2021, thực hiện yêu cầu của Ngân hàng A, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc đã ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu; ngày 09/12/2021 ra Quyết định về việc cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản; ngày 22/12/2021 ra Thông báo về việc cưỡng chế thi hành án; ngày 03/11/2022, Trung tâm D3 đã ra Thông báo số 92/TB do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc tổ chức về việc bán đấu giá toàn bộ tài sản hữu hình trên đất trong khuôn viên của Công ty G. Kết quả Công ty Cổ phần G là đơn vị trúng đấu giá với số tiền là 8.250.000.000 đồng.

Vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án:

01 (một) Hợp đồng kinh tế số 16/2020/HĐKT-TP/GNSL 12/10/2020; 01 (một) Hợp đồng thi công xây dựng công trình số 18/2020/HĐKT-GNSL 12/10/2020; 01 (một) Hợp đồng mua bán phế liệu số 01/HĐMB ngày 29/01/2021 và 01 (một) Phiếu thu, đề ngày 21/01/2021- được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị cáo Đào Văn T và Hồ Đình T1 chưa bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Ông Nguyễn Đình T4 - Chủ tịch HĐQT Công ty Đ1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng; anh Trần Viết D yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKS-NL ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố Đào Văn T, Hồ Đình T1 về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Đào Văn T từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Hồ Đình T1 từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Công ty Đ1 số tiền 300.000.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Viết D số tiền 150.000.000 đồng. Kỷ phần mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường ½ thiệt hại.
  • Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 không nhận tội; vì cho rằng các bị cáo đã báo cho công ty Đ1 và anh Trần Viết D về tình trạng tài sản là đã và đang thế chấp tại Ngân hàng, do vậy chỉ là giao dịch dân sự.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo tranh luận: Công ty cổ phần G đã và đang hoạt động hợp pháp tại thời điểm xảy ra các sự việc và hiện đang làm hợp đồng thuê tư vấn thiết kế nhà máy gạch. Việc chiếm đoạt tài sản của các bị cáo không có trước thời điểm ký kết các hợp đồng, do đó không thoả mãn điều kiện về ý thức chiếm đoạt quy định tại Điều 174 BLHS; Tại thời điểm xảy ra vụ việc các bị cáo đã thực hiện dự án chưa được cấp phép, chứ không phải là không có thật. Vi phạm của bị cáo T là vi phạm về mặt hành chính, chứ không phải là vi phạm pháp luật hình sự. Về việc ký kết hợp đồng với công ty Đ1: công ty Đ1 là công ty lớn nên không thể ký hợp đồng khi chưa tìm hiểu thông tin nên lời khai của bị cáo đưa đại diện công ty Đ1 vào gặp đại diện ngân hàng để biết thông tin tài sản là có cơ sở; hơn nữa tại Biên bản làm việc ngày 29/10/2020 là phụ lục của Hợp đồng số 16 ngày 12/10/2020. Các bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 đã báo cho công ty Đ1 và anh Trần Viết D về tình trạng tài sản là đã và đang thế chấp tại Ngân hàng; các hợp đồng ký kết là do bên bị hại soạn sẵn, nên không đảm bảo tính khách quan, do vậy chỉ là giao dịch dân sự do đó các bị cáo không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Đại diện VKS tranh luận đối đáp: mục đích ký kết tham gia ký kết các hợp đồng đặt cọc là lấy tiền để chi tiêu và trả nợ. Về cung cấp thông tin gian dối: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì dự án chưa được cấp phép; trong hợp đồng đều thể hiện thông tin là tài sản hoàn toàn đảm bảo tính pháp lý, công ty cổ phần G có toàn quyền bán tài sản. Ngoài ra, kết quả bán đấu giá tài sản đã khẳng định tài sản thế chấp có giá trị lớn (hơn 8 tỷ đồng) nhưng các bị cáo vẫn đưa ra giá bán các tài sản này chỉ với giá 700.000.000 đồng đến 750.000.000 đồng để dẫn dụ các bị hại đã thể hiện thủ đoạn gian dối của các bị cáo. Về việc ai là người soạn thảo các hợp đồng thì chưa có tài liệu xác định cụ thể, tuy nhiên việc ai là người soạn thảo không có ý nghĩa quyết định, vì bị cáo T1 khi ký kết buộc phải đọc và phải chịu trách nhiệm về những điều mình ký. Biên bản làm việc ngày 29/10/2020 giữa các bị cáo với công ty Đ1 không thể xem là phụ lục của Hợp đồng số 16 vì thời điểm lập văn bản này là ngày 29/10/2020 – sau ngày thiết lập hợp đồng (ngày 12/10/2020). Về ý thức chiếm đoạt tài sản: bị cáo đã khai rằng ý thức chiếm đoạt tiền xuất hiện ngay thời điểm ký kết hợp đồng, mặt khác việc đưa ra thông tin gian dối về tài sản, về dự án đã có trước thời điểm ký kết các hợp đồng, chứ không phải vì lý do khách quan mà bị cáo không thực hiện được hợp đồng. Đối với quan điểm bào chữa cho việc đưa ông Nguyễn Đình T4, ông Trần H2 vào gặp ông Cao Xuân D1 – giám đốc Ngân hàng N – chi nhánh huyện N vào ngày 12/10/2020 thì không có tài liệu để chứng minh; không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai của bị hại và lời khai của ông D1 và không phù hợp với thực tế. Cụ thể: các hợp đồng đều không có bên thứ ba là Ngân hàng tham gia ký hợp đồng xác nhận đồng ý cho phép Công ty G bán các tài sản này. Thứ hai, các hợp đồng đều ghi nhận khoảng thời gian bắt đầu thực hiện hợp đồng là rất ngắn (đối với hợp đồng với Công ty Đ1 là 10 ngày sau ngày nhận tiền đặt cọc, đối với hợp đồng với anh Trần Xuân D2 là sau gần 01 tháng kể từ ngày ký hợp đồng). Với thời gian ngắn như vậy, nếu như hoàn toàn ngay tình thì Công ty G cũng không thể kịp bàn giao các tài sản mua bán do chưa được sự đồng ý từ phía ngân hàng, cũng như các bên chưa có biên bản làm việc để thống nhất giá trị tài sản để giải chấp. Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội.

Đại diện theo uỷ quyền của Công ty Đ1 tranh luận: Hoàn toàn đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và bác bỏ hoàn toàn lời bào chữa cũng như quan điểm tranh luận của luật sư. Bởi Hợp đồng mua bán tài sản số 16 ngày 12/10/2020 là hoàn toàn tự nguyện; một trong các điều khoản của Hợp đồng mua bán là “tài sản mua bán hoàn toàn hợp pháp của bên bán, bên bán có toàn quyền mua bán, định đoạt”. Biên bản làm việc ngày 29/10/2020 được thiết lập khi bên công ty cổ phần G không thực hiện nội dung cam kết là trong vòng 10 ngày phải bàn giao tài sản cho công ty Đ1 và thời điểm đó thì công ty Đ1 mới được bị cáo T, bị cáo T1 cung cấp thông tin là tài sản đang thế chấp tại ngân hàng, và đang cố gắng đưa tài sản ra khỏi ngân hàng; chứ không thể là văn bản phụ lục hợp đồng như quan điểm của luật sư đưa ra.

Tại phiên tòa, bị hại anh Trần Viết D giữ ngyên trình bày và yêu cầu; đồng thời đề nghị Tòa án xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; người bị hại; luật sư bào chữa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận về các hành vi ký kết hợp đồng mua bán tài sản tại nhà máy của công ty cổ phần G tại xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cho công ty Đ1 và anh Trần Viết D nhưng khẳng định việc kí kết hợp đồng mua bán tài sản với ông Nguyễn Đình T4 (giám đốc công ty Đ1) và anh Trần Viết D là hoàn toàn tự nguyện; những người tham gia giao dịch đều biết đến tình trạng pháp lý của tài sản mua bán là đang được thế chấp tại Ngân hàng. Việc không thực hiện được hợp đồng mua bán tài sản là do bị cáo không kịp được phê duyệt dự án cải tạo nhà máy gạch ngói tại Công ty Cổ phần G (tiền thân là công ty G1). Nên đây là các giao dịch dân sự, các bị cáo không phạm tội như Cáo trạng quy kết.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Lời khai của bị cáo Đào Văn T vào các ngày 26/10/2023, ngày 01/11/2023, ngày 07/12/2023, ngày 06/6/2024 thể hiện nội dung: ngày 12/10/2020, bị cáo cùng Hồ Đình T1, Thái Mạnh H3, ông Trần H2, ông Nguyễn Đình T4 cùng vào công ty tham quan một lần nữa, sau khi tham quan xong thì đến một nhà hàng ở bãi L, xã N, huyện N để ký 02 hợp đồng kinh tế số 18 và hợp đồng kinh tế số 16. Trong hợp đồng số 16 là nội dung mua bán máy móc thiết bị nhà xưởng với giá 700.000.000 đồng, đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng.

Bị cáo chỉ đạo bị cáo T1 ký kết các hợp đồng mua bán tại thời điểm sau khi Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã tuyên xử về việc phát mại tài sản trên đất để trả nợ cho ngân hàng. Do cần tiền để trả nợ nên mặc dù bị cáo biết các tài sản trên đất trong công ty cổ phần gạch ngói sông L đang thế chấp tại Ngân hàng nông nghiệp đồng thời biết tài sản sẽ bị kê biên phát mại để thu hồi nợ nhưng bị cáo vẫn nhận tiền đặt cọc của họ. Mục đích nhận tiền đặt cọc là để lấy tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân. Khi bán các tài sản đang thế chấp và đang bị kê biên thì bị cáo không xin phép ngân hàng, không dùng số tiền bán được để trả nợ cho ngân hàng.

Lời khai của bị cáo Hồ Đình T1 vào ngày 01/11/2023, ngày 06/6/2024 thể hiện nội dung: dưới sự chỉ đạo của bị cáo T; ngày 12/10/2020, bị cáo được bị cáo T gọi đi ký hợp đồng với đối tác tại xã N. Sau khi xuống thì bị cáo cùng bị cáo T, anh Thái Mạnh H3 gặp ông Trần H2 và ông Nguyễn Đình T4, mọi người gặp ở ngoài cổng công ty, sau đó bị cáo ở ngoài cổng công ty đợi bị cáo T, ông T4 và ông H2 vào tham quan công ty để thăm quan. Sau khi thăm quan xong, thì tất cả lên xe ô tô và ăn uống tại bãi Lữ và đồng thời ký kết hợp đồng mua bán tại đây.

Lời khai của bị cáo T1 vào ngày 06/6/2024 thể hiện: khi ký hợp đồng mua bán với anh Trần Viết D, bị cáo không nhắc đến việc tài sản công ty cổ phần gạch ngói sông L đang bị thế chấp ngân hàng N, chi nhánh huyện N và cũng không nói cho anh D, chị B biết nội dung này.

Lời khai của bị hại - ông Nguyễn Đình T4 (giám đốc công ty Đ1) thể hiện: Anh T6 nói rằng có dự án xây dựng nhà máy gạch ngoái Sông Lam và sẽ thanh lý toàn bộ thiết bị, nhà xưởng cũ của Công ty. Đồng thời nói: Quá trình xây dựng dự án Gạch ngói Sông L, hiện tại thiếu nhiều kinh phí nên muốn bán tài sản cũ gồm nhà xưởng, máy móc thiết bị tại công ty Đ1 đã đồng ý mua lại toàn bộ thiết bị cũ trên với giá 700.000.000 đồng. T6 nói rằng đây là tài sản không vướng mắc gì về pháp luật và muốn ứng trước số tiền là 300.000.000. Ngày 12/10/2020 hai bên đã ký hợp đồng mua bán tài sản là tài sản cũ của công ty Đ2 chuyển khoản cho công ty G. Một thời gian dài ông T4 và công ty Đ1 liên tục thúc đẩy và liên hệ về việc tháo dỡ công trình thiết bị nhà xưởng cũ của công ty G thì phát hiện ra toàn bộ tài sản này đang được thế chấp tại Ngân hàng A và đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên xử lý tài sản thế chấp nếu công ty cổ phần G không trả được nợ và số nợ là hơn 18 tỷ đồng.

Lời khai của bị hại – anh Trần Viết D: Ngày 21/01/2021, anh D và Hồ Đình T1 – là giám đốc công ty cổ phần G ngói sông L có ký hợp đồng mua bán phế liệu số 01/HĐMB. Anh đã chuyển số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng. Đến ngày 21/3/2021, anh D gọi điện cho bà B thông báo về việc anh đưa máy móc đến Công ty cổ phần G để tiến hành tháo dỡ nhưng anh T1, chị B hứa hẹn cho chậm khoảng 1 tháng rồi mời bắt đầu tháo dỡ. Mặc dù thúc dục nhiều lần nhưng hai bên anh T1 không thực hiện như cam kết đã ký. Tại thời điểm ký hợp đồng, anh D không biết số tài sản đã thỏa thuận mua bán đang bị thế chấp tại Ngân hàng. Đến ngày 05/01/2024, anh đến cơ quan công an huyện N để trình báo sự việc thì mới biết tài sản mà anh T1 bán thì đang bị thế chấp tại Ngân hàng.

Các lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần H2, bà Bùi Thị B đều khẳng định là không biết gì về việc tài sản mà công ty cổ phần G bán cho công ty Đ1 và anh Trần Viết D đã và đang thế chấp tại ngân hàng khi ký kết hợp đồng mua bán.

Người làm chứng là đại diện Ngân hàng N – chi nhánh huyện N trình bày: Toàn bộ tài sản trên đất của công ty cổ phần G (tiền thân là công ty cổ phần G1) đã được thế chấp tại Ngân hàng để vay vốn và lần lượt các ngày 30/9/2019; ngày 12/6/2020 Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc và Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An đã xét xử các vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N với công ty cổ phần G; trong bản án đã quyết định: buộc công ty cổ phần G phải trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2019 là 18.649.006.808 đồng trong trường hợp công ty cổ phần G không trả nợ được thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản thế chấp trong có có toàn bộ máy móc, nhà xưởng cũ trên toàn bộ khuôn viên công ty cổ phần G ở xóm A, xã N, huyện N. Năm 2022, tài sản này đã được thi hành án bán đấu giá với số tiền 8.250.000.000 đồng và công ty T8 đấu giá là Công ty cổ phần G. Bị cáo T6 có đưa nhiều người để gặp ông gặp ông để trao đổi về trả nợ và rút tài sản thế chấp, tuy nhiên gặp ai và vào thời gian nào thì ông không biết, không nhớ, ông chưa đồng ý bán tài sản cho bên thứ 3 nào cả. Ông không quen ông Trần H2.

Nội dung Hợp đồng mua bán số 16, ngày 12/10/2020 Công ty cổ phần G ký kết với công ty Đ1 thể hiện nội dung: Bên A (Công ty cổ phần G) cam kết toàn bộ hàng hàng hóa thống kê trong hợp đồng này đúng và đủ số lượng, hàng hóa thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên A và bên A có quyền bán toàn bộ hàng hóa này.

Nội dung Hợp đồng mua bán số 01/HĐMB, ngày 29/01/2021 (các bên đã xác nhận lại là ngày 21/01/2021) Công ty cổ phần G ký kết với anh Trần Viết D thể hiện nội dung: Bên A (công ty cổ phần G) Cam kết tính trung thực, chính xác những thông tin mà bên A đã đưa ra. Đảm bảo không có tranh chấp của các cổ đông, tranh chấp với bên thứ ba ... chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hàng hóa.

Xét lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi liên quan và lời khai ban đầu của các bị cáo phù hợp nhau về nội dung là các bị hại không biết tài sản trong các hợp đồng mua bán là đã và đang thế chấp tại ngân hàng. Lời khai được thu thập ở nhiều thời điểm khác nhau; các bị hại và người làm chứng không quen biết nhau, ở nhiều địa phương khác nhau và đều khẳng định bị cáo T6, bị cáo T1 đều không đưa ra tình trạng pháp lý của tài sản là đang bị thế chấp tại Ngân hàng. Lời khai của các bị hại, người liên quan phù hợp với nội dung thoả thuận trong các Hợp đồng mua bán tài sản mà các bên đã ký kết. Do đó, lời khai của họ là khách quan, đúng sự thật.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai: vào ngày 12/10/20220; sau khi dẫn ông Nguyễn Đình T4, ông Trần H2 tham quan nhà máy tại xóm A, xã N, huyện N thì các bị cáo dẫn ông T4, ông H2 vào gặp ông Cao Xuân D1 – giám đốc ngân hàng N để trao đổi nội dung rút tài sản thế chấp; sau đó các bị cáo cùng ông T4, ông H2 ra quán ở biển bãi Lữ để ký kết Hợp đồng mua bán tài sản số 16 và Hợp đồng hợp tác số 18. Như vậy, lời khai này mâu thuẫn toàn bộ với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; mâu thuẫn với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; không phù hợp với các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo đều đã biết tài sản đã được xử lý tại Bản án dân sự sơ thẩm và Bản án dân sự phúc thẩm vào tháng 6/2020; giá trị tài sản thế chấp lớn nhưng các bị cáo vẫn đưa ra giá bán các tài sản này chỉ với giá 700.000.000 đồng đến 750.000.000 đồng. Điều này thể hiện các bị cáo cố ý đưa ra thông tin sai lệch và đưa ra giá bán thấp hơn nhiều so với giá trị thực để thực hiện giao dịch mua bán nhằm chiếm đoạt tiền của các bị hại; khi bị phát hiện thì khai lại rằng các bị cáo đã nói cho các bị hại biết tài sản đã là tài sản thế chấp nhằm dân sự hoá các giao dịch của mình. Lời bào chữa của luật sư về việc các bị cáo không có mục đích chiếm đoạt và không có hành vi gian giối tại thời điểm ký kết các hợp đồng là không có cơ sở.

Từ sự phân tích trên thì HĐXX đủ cơ sở để kết luận: Hành vi đưa ra thông tin không đúng về tài sản trên khu vực nhà máy của công ty cổ phần G1, sau này là Công ty CP G tại xóm A, xã N, huyện N và dự án đầu tư xây dựng nhà máy G4 để kí hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng hợp tác kinh doanh vào ngày 12/10/2020 với Công ty Đ1 để chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng và khi không thực hiện được hợp đồng mua bán với công ty Đ1 thì lại tiếp tục kí hợp đồng mua bán cùng tài sản trên với anh Trần Viết D vào ngày 21/01/2021 để chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất vụ án; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để có tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, các bị cáo Đào Văn T giữ vai trò chủ mưu trong vụ án, chính T là người trực tiếp đưa ra ý tưởng, đưa ra thông tin sai lệch, hướng dẫn bị cáo T1 thực hiện các bước và là người hưởng lợi toàn bộ số tiền chiếm đoạt được. Do vậy, Đào Văn T giữ vai trò chính trong vụ án.

Bị cáo Hồ Đình T1 cũng tham gia với vai trò thực hành, giúp sức tích cực. Mặc dù T1 khai không biết các nội dung và T trao đổi, tuy nhiên T1 biết rõ tình trạng pháp lý của tài sản; T1 cũng cùng với T gặp gỡ, trao đổi thông tin để các bị hại kí hợp đồng và chuyển tiền; đồng thời kí các uỷ nhiệm chi để T rút tiền; nếu không có sự giúp sức của T1 thì việc mua bán dưới tư cách pháp nhân công ty cổ phần G không thể thực hiện được nên T1 cũng phải chịu mức án nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo thực hiện hai hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tại bản án số 219/2023/HSST ngày 23/9/2023, bị cáo Đào Văn T bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm 03 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, các hành vi phạm tội trong vụ án này được thực hiện trước thời gian có hiệu lực pháp luật của bản án số 219/2023/HS-ST; do vậy bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo không thành khẩn và không ăn năn hối cải về hành vi của mình nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, gia đình các bị cáo là người có công với cách mạng; bị cáo T trong thời gian quân ngũ được tặng giấy khen. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích trên và đánh giá nhân thân của các bị cáo thì cần xét xử các bị cáo mức án tù và cách li các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đình T4 - Chủ tịch HĐQT Công ty Đ1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 300.000.000 đồng; anh Trần Viết D yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 150.000.000 đồng. Đây là số tiền các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại, do đó cần buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Công ty Đ1 và anh Trần Viết D. Trong đó xác định mỗi bị cáo có nghĩa vụ bồi thường ½ thiệt hại.

[6] Về vật chứng: không

[7]. Trong vụ án này, ông Thái Mạnh H3 là bảo vệ của Công ty cổ phần G, ông H3 biết về tình trạng tài sản của công ty thế chấp tại công ty và cũng tham gia trong thời gian ông Nguyễn Đình T4 đến tham quan và kí kết hợp đồng mua bán tài sản. Tuy nhiên, ông H3 không biết nội dung trao đổi cụ thể giữa bị cáo T, bị cáo T1 với Công ty Đ1 nên chưa đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Thái Mạnh H3.

Đối với bà Bùi Thị B: Bà Bùi Thị B là người giới thiệu anh Trần Viết D mua bán phế liệu nhà máy công ty G; là người chứng kiến việc ký kết hợp đồng giữa bị cáo T1 và anh D; là người cho mượn tài khoản để anh D chuyển khoản và cũng hưởng lợi 30 triệu tiền hoa hồng. Tuy nhiên, lời khai của bị cáo T, bị cáo T1 và lời khai của anh D đều khẳng định bà B không biết tài sản của công ty là đang thế chấp ngân hàng; do đó, chưa đủ cơ sở để kết luận bà B biết việc tài sản của công ty cổ phần G đã thế chấp tại Ngân hàng. Tài liệu Biên bản họp cổ đông mà luật sư bào chữa giao nộp cho Toà án thể hiện ngày thiết lập văn bản là ngày 18/4/2018; tuy nhiên danh sách cổ đông mà công ty G1 gửi cho Sở X1 thì không có tên bà B; hơn nữa nội dung trong Biên bản họp cổ đông cũng không đề cập đến nội dung là tài sản của công ty cổ phần G đang thế chấp tại Ngân hàng. Do đó, chưa đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà B. Số tiền 30.000.000 đồng bà B hưởng lợi, bà B đã trả lại cho anh Trần Viết D; anh D không yêu cầu trách nhiệm gì từ bà B nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với số tiền 25.000.000 đồng mà ông Nguyễn Đình T4 chuyển cho bị cáo Đào Văn T trong 02 lần (một lần 5.000.000 đồng và một lần 20.000.000 đồng). Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp ông Trần H2 yêu cầu bị cáo T phải trả số tiền này. Xét lời khai của ông Nguyễn Đình T4 và bị cáo T đều thống nhất số tiền này không liên quan đến tiền đặt cọc mua bán tài sản số A mà là tiền vay cá nhân; do đó số tiền này không liên quan trong vụ án. Do vậy, Tòa án tách ra để xử lý bằng vụ kiện khác nếu có yêu cầu.

[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    • Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Đào Văn T 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

    • Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Hồ Đình T1 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

  2. Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 468, Điều 587, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

    • Buộc bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại cho Công ty Đ1 số tiền 300.000.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Viết D số tiền 150.000.000 đồng. Trong đó, kỷ phần được chia mỗi bị cáo phải bồi thường cho công ty Đ1 số tiền 150.000.000 đồng; bồi thường cho anh Trần Viết D số tiền 75.000.000 đồng;

    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.

    • Buộc bị cáo Đào Văn T, bị cáo Hồ Đình T1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nghi Lộc;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Nghi Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Nghi Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Hợp Thành, xã Tiền Phong;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn T và đồng phạm phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (chối tội)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger