TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 15-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Ông Đoàn Quốc Việt
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn P, sinh ngày 10 tháng 12 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Trường S và bà Lê Thị C; có vợ là Lê Thị Mỹ D; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10-3-2024, đến ngày 19-3-2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1967 (đã chết)
Những người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1932, là bố đẻ của bị hại; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
- + Bà Trần Thị R, sinh năm 1937, là mẹ đẻ của bị hại; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
- + Bà Ngô Thị B1, sinh năm 1971, là vợ của bị hại; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng;
- + Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, là con đẻ của bị hại; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
- + Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 2000, là con đẻ của bị hại; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Ngô Thị B1; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Phạm Thị L1, vắng mặt;
- + Ông Nguyễn Văn T, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 24 phút ngày 09-3-2024, Phạm Văn P (có Giấy phép lái xe hạng B2) một mình điều khiển xe ôtô biển kiểm soát: 15K-006.38 đi từ nhà ở thôn M, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng đến thị trấn V, huyện V. Khi đi đến đường trục xã T, huyện V thì P phát hiện phía trước cùng chiều có ông Nguyễn Văn V và bà Phạm Thị L1 đang đi bộ ở đường trục xã T. P tiếp tục điều khiển xe ôtô đi về hướng thị trấn V nhưng do không làm chủ tốc độ nên xe ôtô do P điều khiển đã đâm vào ông V làm ông V văng về phía trước và rơi xuống mương nước. P dừng xe xuống đứng cạnh xe và hỏi chị L1 “cái gì đấy?" thì chị L1 trả lời “cái gì đấy rơi xuống sông”. Sau đó P lên xe, điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường và đi về nhà. Tại nhà, P và vợ là Lê Thị Mỹ D mở camera hành trình của xe ô tô xem lại diễn biến vụ tai nạn giao thông. Do lo sợ nên P đã xoá đoạn video để không ai biết. Khoảng 22 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 15K1-169.36 quay lại hiện trường vụ tai nạn giao thông để kiểm tra xem có ai phát hiện ra vụ tai nạn không nhưng không thấy ai tại hiện trường nên P đi về. Khoảng 06 giờ ngày 10-3-2024, P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 15K-006.38 đến xưởng sửa chữa ô tô của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 ở thôn C, xã N, huyện V để sửa xe. Sáng ngày 10-3-2024, gia đình ông V đi tìm kiếm thì phát hiện ông V chết dưới mương nước trước cổng Ủy ban nhân dân xã T. Đến 20 giờ 30 phút ngày 10-3-2024, Phạm Văn P đến Công an huyện V đầu thú và giao nộp phương tiện xe ô tô.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường chung là mương nước phía trước cổng Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng nằm dọc theo hướng Đ, phía Nam giáp cánh đồng, phía Bắc giáp đường trục xã T và nhà văn hóa, Ủy ban nhân dân xã T. Đường trục xã T có phía Tây đi hướng thôn G, hướng Đ đi thị trấn V. Hiện trường cụ thể: quan sát khu vực mương nước phía trước cổng Ủy ban nhân dân xã T, huyện V thấy mương nước nằm dọc hướng Đông-T, rộng trung bình 10m, sâu trung bình từ 0,5m đến 1,5m, hiện tại không có dòng chảy, hai bên mương nước có thành bằng bê tông dày 0,3m, hiện tại mặt trên thành bê tông cao cách mặt nước 1,6m. T2 mương phía Bắc, phía trước cổng nhà văn hóa xã T có đoạn khuyết thành bê tông rộng 2,6m, đoạn khuyết này có bờ đất dốc thoải từ đường xuống mương nước khoảng 60°; vị trí giữa đoạn khuyết thành bê tông cách giữa cổng nhà văn hóa xã T 18,1m về phía Đông Nam là khu vực rìa phía Bắc mương nước-tương ứng giữa đoạn khuyết thành bê tông mô tả trên, hiện tại mặt nước tại vị trí này cao 0,6m so với đáy. Giữa mương nước và đường trục xã T có vệ đất rộng 1,4m, cao trung bình 0,1m so với mặt đường và thấp hơn mặt thành bê tông 0,2m; trên vệ đất có rải rác các cột đèn chiếu sáng. Đường trục xã T nằm song song với mương nước, rộng trung bình 8,2m, được chia thành 02 làn ngược chiều nhau, giữa hai làn có vạch kẻ nét đứt màu vàng; làn hướng Tây đi thôn G, xã T, làn hướng Đông đi thị trấn V, mặt đường trải nhựa áp-phan (asphalt) mới, bằng phẳng. Quan sát trên mặt đường thấy: 01 mũ lưỡi trai màu xám, nhãn hiệu Adidas và 01 chiếc dép bàn chân trái bằng nhựa màu đen, nhãn hiệu Asia, kích thước 0,26x0,11m; mũ và dép nằm trong diện 0,5x0,2m, vị trí tâm diện trùng với mép phía Bắc vệ đất mô tả trên, cách giữa đoạn khuyết thành bê tông mô tả trên 3,7m về phía T.
Tại bản kết luận giám định số 1316/KL-KTHS ngày 26-4-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết va chạm trên xe ô tô mang BKS: 15K-006.38: Các dấu vết: dập vỡ tại góc trên bên phải kính chắn gió phía trước theo chiều từ trước về sau. Đặc điểm cơ học của các dấu vết còn lại trên xe ô tô mang BKS: 15K-006.38 hiện tại không thể hiện rõ nên không đủ yếu tố giám định. Không đủ cơ sở xác định dấu vết va chạm giữa xe ô tô mang biển kiểm soát 15K-006.38 và ông Nguyễn Văn V. Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô mang BKS: 15K-006.38 tại thời điểm xảy ra va chạm” .
Kết quả khám nghiệm tử thi ông Nguyễn Văn V ghi nhận các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: Vùng trán - thái dương trái có đám rách da bờ mép gọn nằm theo chiều dấu huyền kích thước 08x0,5cm, khép da dài 8,2cm; phía đầu trên vết này có vết rách da phụ dài 1,7cm, xung quanh vết này sưng nề, bầm tím, tụ máu, kèm theo nhiều vết xây xước, chợt da nằm theo chiều dấu huyền trong diện 18x10cm, vết chợt rách da cách đường giữa trán 5cm. Vùng cổ và vai trái có nhiều đám xây xước da kết hợp bầm tím tụ máu trên diện 14x8cm. Vùng chẩm bên phải có 01 vết rách da không hoàn toàn, kích thước 6,5x0,3cm, cách đường giữa 3cm, nằm dọc theo trục cơ thể; xung quanh vết này xưng nề bầm tím trên diện 8x3cm. Vùng mu bàn tay trái có một số vết xây xước, chợt da trên diện 12x8cm. Vùng đầu gối trái có đám xây xước, chợt da kết hợp xưng nề bầm tím kích thước 10x5cm. Mổ tử thi: Tổ chức dưới da vùng thái dương bên trái bầm tím, tụ máu trên diện 15x9cm. Tổ chức dưới da đầu vùng thái dương đỉnh trái tụ máu trên diện 10x7cm. Tổ chức não phù, tụ máu 2 bên bán cầu não. Dập vỡ xương hộp sọ từ vùng chẩm vào xương nền sọ dài 9cm. Tổ chức dưới da cơ vùng cổ-ngực-bụng không bầm tím tụ máu, lòng khí quản chứa nhiều tạp chất màu hồng kết hợp bọt và nhiều dịch nhờn. Hệ thống xương vùng cổ-ngực-bụng không bị dập gãy. Hai phổi phù, diện cắt phổi trào nhiều dịch bọt. Cơ tim xung huyết; đài bể thận xung huyết, không chứa sỏi. Một số đoạn ruột bầm tím trên diện 6x3cm.
Tại bản kết luận giám định tử thi đối với ông Nguyễn Văn V số 884/KL-KTHS ngày 31-3-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “- Dấu vết thương tích trên tử thi có đặc điểm hình thành trước khi chết do vật tày và vật sắc tác động. Trong đó: Vết rách da vùng trán- thái dương trái do vật sắc tác động. Vết rách toác da không hoàn toàn vùng chẩm bên phải, vết rách toác da vùng đầu gối phải, vết xây xước vùng cổ và vai trái, vùng mu bàn tay trái, vùng đầu gối trái do vật tày tác động. Thương tích vùng trán-thái dương trái và vùng chẩm bên phải làm tụ máu hai bán cầu não có thể gây nên cái chết của nạn nhân.
- - Nồng độ cồn (E) trong máu: 59 mg/100ml máu. Độc chất và ma tuý: Không.
- - Nguyên nhân chết: Ngạt nước trên nạn nhân sốc chấn thương sọ não”.
Công văn số 595/CV-PC09 ngày 24-5-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Thời gian ông Nguyễn Văn V tử vong đến thời điểm khám nghiệm tử thi trong khoảng trên dưới 12 giờ”.
Công văn số 808/CV-PC09 ngày 17-7-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H có nội dung: “Thương tích vùng trán-thái dương trái và vùng chẩm bên phải làm tụ máu hai bán cầu não, dập vỡ xương hộp sọ từ vùng chẩm vào xương nền sọ dài 9cm là các thương tích quyết định sự chết của nạn nhân. Nếu được cấp cứu kịp thời vẫn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nạn nhân”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTSTT ngày 20-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện V kết luận: “01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VIVO 1906 mặt lưng màu xanh, đã qua sử dụng, tình trạng hoạt động bình thường, tại thời điểm ngày 09/3/2024 có giá trị là 920.000 đồng”.
Kết quả xét nghiệm đối với Phạm Văn P xác định âm tính với các chất ma tuý và định lượng Alcol etanol là 0,00 mg/L.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng: Xe ôtô 15K- 006.38 cùng giấy đăng ký và đăng kiểm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Mỹ D (vợ của P); 01 mũ lưỡi trai màu xám nhãn hiệu Adidas, 01 chiếc dép bàn chân trái bằng nhựa màu đen, nhãn hiệu Asia và 01 điện thoại nhãn hiệu ViVo 1906 là tài sản hợp pháp của ông V Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị B1 (vợ của ông V); 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 đôi giày màu xám, viền hồng, 01 áo thu đông có mũ màu đỏ và 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel là tài sản hợp pháp của Phạm Thị Len Cơ Q điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị L1; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Phạm Văn P, 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi Note 12, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
Tại Bản cáo trạng số: 92/CT-VKS ngày 28-10-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố Phạm Văn P về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn P từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn P và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 24 phút ngày 09-3-2024, Phạm Văn P có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 15K-006.38 đi trên đường trục xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng không tuân thủ về tốc độ khi điều khiển phương tiện giao thông, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn gây tai nạn làm ông Nguyễn Văn V chết. Bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường ...”
Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có chướng ngại vật trên đường;
[2.1] Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết định khung: Sau khi điều khiển xe gây tai nạn, bị cáo đã điều khiển xe bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú tại Công an huyện V, quá trình điều tra người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị hại có một phần lỗi khi đi bộ dưới lòng đường tại khu vực có vỉa hè nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tính mạng của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Thời gian qua trên địa bàn thành phố Hải Phòng nói chung, địa bàn huyện V nói riêng xảy ra nhiều vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiêm trọng, nguyên nhân chính là do ý thức chấp hành pháp luật về an toàn giao thông của những người tham gia giao thông kém. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, song khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét tới nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức hình phạt đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã điều khiển xe rời khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền 200.000.000 đồng. Gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Xe ôtô 15K- 006.38 cùng giấy đăng ký và đăng kiểm, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Mỹ D (vợ của P); 01 mũ lưỡi trai màu xám nhãn hiệu Adidas, 01 chiếc dép bàn chân trái bằng nhựa màu đen, nhãn hiệu Asia và 01 điện thoại nhãn hiệu ViVo 1906 là tài sản hợp pháp của ông V Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị B1 (vợ của ông V); 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 đôi giày màu xám, viền hồng, 01 áo thu đông có mũ màu đỏ và 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel là tài sản hợp pháp của Phạm Thị Len Cơ Q điều tra đã trả lại cho bà Phạm Thị L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chi cục thi hành án đang quản lý 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Phạm Văn P là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo, điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi Note 12 là tài sản của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
- Phạm Thị L1 không thấy được ông V đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. Kết luận giám định thể hiện thương tích đầu, dập vỡ xương hộp sọ là các thương tích quyết định sự chết của nạn nhân, nếu được cấp cứu kịp thời vẫn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nạn nhân. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xử lý Phạm Thị L1 về tội Không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật Hình sự là đúng quy định pháp luật.
- Đối với hành vi của Phạm Thị L1 cầm điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1906 trị giá 920.000 đồng của ông Nguyễn Văn V sau đó mang về nhà cất giấu, L1 chưa có tiền án, tiền sự do đó Cơ quan điều tra không xử lý hình sự mà chuyển Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt Phạm Văn P 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10-3-2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Redmi Note 12; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Phạm Văn P (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29-10-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Phạm Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Phong - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
