|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày: 25 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Thanh Giang;
Ông Đoàn Trung Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mừng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Vũ Thị T, sinh năm 1977 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H (xóm L cũ), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Phạm Thị B; chồng là Vũ Văn M (đã ly hôn), có 02 con; tiền án: 03:
- + Ngày 17/11/2006 Vũ Thị T bị TAND tỉnh Nam Định xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 137a/HSST. Được hoãn thi hành án vì nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
- + Ngày 28/11/2008 Vũ Thị T bị TAND huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 62/2008/HSST.Tổng hợp hình phạt của bản án số 137a/HSST ngày 17/11/2006, buộc T phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 14 năm 06 tháng tù. Ra trại ngày 02/02/2019.
- + Ngày 12/5/2020 Vũ Thị T bị TAND huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 40/2020/HS-ST. Ra trại ngày 21/12/2023
Tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt”.
- Đặng Văn B1, sinh năm 1973 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H (xóm L cũ), xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Kiên C và bà Phạm Thị L; vợ là Nguyễn Thị V, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/4/2016 bị TAND huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Bản án số 31/2016/HSST, ra trại ngày 08/6/2018; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Nam Định; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17-6-2024, Đặng Văn B1 đến nhà Vũ Thị T ở cùng xóm để mua Heroine về sử dụng. Gặp T, B1 hỏi T mua 400.000 đồng tiền Heroine, T bảo chưa có và hẹn khi nào có H sẽ gọi cho B1. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T sử dụng điện thoại gọi cho B1 bảo “có hàng rồi” (tức là có Heroine rồi) và hẹn B1 ra khu vực quán bán đồ ăn của chị Vũ Thị H1 ở xóm L, xã G để lấy. Bôn hiểu ý T nên một mình đi xe đạp đến điểm hẹn. Gặp T, B1 đưa cho T 400.000 đồng, T nhận tiền rồi đưa lại cho B1 01 gói nhỏ, bên ngoài gói bằng giấy kẻ ô ly loại giấy vở học sinh, bên trong có 02 gói Heroine đều được gói bằng giấy báo. Sau đó T đi về, B1 cất H vừa mua được vào túi quần rồi điều khiển xe tìm nơi để sử dụng. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi B1 đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm L, xã G thì bị tổ tuần tra của Công an xã G yêu cầu kiểm tra hành chính đối với B1. Quá trình kiểm tra, tổ tuần tra đã thu giữ gồm 01 gói giấy vở học sinh, bên trong có 02 gói được gói bằng giấy báo đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, B1 khai nhận đó là H của B1 cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đưa đối tượng Đặng Văn B1 cùng vật chứng về trụ sở Công an xã G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ là 01 gói giấy vở học sinh, bên trong chứa 02 gói được gói bằng giấy báo đều chứa chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 theo đúng quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Đặng Văn B1 01 điện thoại di động Nokia và 01 xe đạp.
Căn cứ lời khai của Đặng Văn B1, kết quả nhận dạng bản ảnh cùng các tài liệu có liên quan, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã triệu tập Vũ Thị T lên làm việc. Quá trình làm việc, Vũ Thị T đã giao nộp cho CQĐT 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh đen.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị T, Cơ quan CSĐT Công an huyện G đã thu giữ trong máy giặt 01 bộ quần áo nữ có họa tiết hoa văn màu đỏ, trắng, đen và thu giữ trong túi quần số tiền: 400.000 đồng (gồm 01 tờ 200.000 đồng và 02 tờ 100.000 đồng), T khai nhận: Bộ quần áo đã thu giữ là quần áo Thơm mặc để đi bán Heroine cho Đặng Văn B1 vào ngày 17/6/2024 và số tiền 400.000 đồng là tiền T đã bán Heorine cho B1 mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Thị T để điều tra xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G tiến hành trưng cầu giám định đối với 02 gói chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Đặng Văn B1 được niêm phong ký hiệu M1.
Tại bản kết luận giám định số: 1156/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
“Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói nhỏ đều được gói bằng giấy báo (đều được gói trong 01 (một) gói giấy vở học sinh kẻ ô ly), được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Tổng khối lượng mẫu M1: 0,163 gam.”
Về nguồn gốc số Heroine Thơm bán cho B1, T khai nhận vào khoảng 18 giờ ngày 17/6/2024, T nhờ một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ chạy xe ôm ở khu vực chợ B3, xã G mua hộ 02 gói Heroin với giá 300.000 đồng, sau đó T đem bán cho B1 02 gói Heroine trên với giá 400.000 đồng. Quá trình điều tra, không xác định được người đã bán H2 cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không có căn cứ để xử lý.
Đối với 01 xe đạp đã thu giữ của Đặng Văn B1, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V (là vợ Đặng Văn B1), khi B1 lấy xe đi mua ma tuý chị V không biết nên CQĐT đã trả lại xe cho chị V.
Đối với 01 phong bì thư niêm phong số 1156/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 Phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định; 02 chiếc điện thoại di động Đặng Văn B1 và Vũ Thị T sử dụng để liên lạc vào việc phạm tội, số tiền 400.000 đồng thu giữ của Vũ Thị T; 01 bộ quần áo thu giữ của Vũ Thị T, T không yêu cầu nhận lại, nay chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện G để chờ xử lý.
Tại Cơ quan Cơ quan điều tra Công an huyện G và tại phiên toà, Vũ Thị T và Đăng Văn B2 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 88/CT-VKS-GT ngày 09-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy đã truy tố các bị cáo Vũ Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Đặng Văn B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị T; tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt Vũ Thị T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn B1; tuyên bố bị cáo Đặng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt Đặng Văn B1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 02 bị cáo. Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy số ma tuý trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật hoàn trả sau giám định và 01 bộ quần áo; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của T và B1 và số tiền 400.000 đồng là số tiền do T bán trái phép chất ma tuý mà có.
Các bị cáo Vũ Thị T và Đặng Văn B1 không tự bào chữa, tranh luận gì; lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, tại khu vực quán bán đồ ăn của chị Vũ Thị H1 ở xóm X (xóm L cũ), xã G, Vũ Thị T có hành vi bán trái phép cho Đặng Văn B1 0,163 gam Heroine với giá 400.000 đồng. Sau đó, B1 mang 0,163 gam Heroine đi tìm nơi để sử dụng. Khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, khi B1 đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm L, xã G, huyện G thì bị Công an xã G phát hiện bắt quả tang.
- Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Các bị cáo biết việc làm của các bị cáo bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy và các bị cáo đều bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
- Từ các căn cứ trên, đủ cơ sở xác định các bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Đặng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
- Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Vũ Thị T và Đặng Văn B1 là hai bị cáo có hành vi vi phạm cấu thành hai tội danh độc lập được xem xét trách nhiệm hình sự trong cùng một vụ án.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Thị T đã 03 lần bị kết án, chưa được xoá án tích. Bản án ngày 12/5/2020 của TAND huyện Giao Thuỷ xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” nên hành vi phạm tội lần này của Vũ Thị T với tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đặng Văn B1 không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân xấu. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; mẹ bị cáo Vũ Thị T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trình bày điều kiện gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt, theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là tương xứng đối với mỗi bị cáo, đủ tác dụng cải tạo các bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
- - Đối với 01 xe đạp đã thu giữ của Đặng Văn B1, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V (là vợ Đặng Văn B1), khi B1 lấy xe đi mua ma tuý chị V không biết nên CQĐT đã trả lại xe cho chị V là phù hợp.
- - Đối với 01 phong bì thư niêm phong số 1156/KL-KTHS ngày 21 tháng 6 năm 2024 Phòng K Công an tỉnh N hoàn trả sau giám định có chứa Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ và bộ quần áo thu giữ của T không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
- - Đối với 02 chiếc điện thoại di động Đặng Văn B1 và Vũ Thị T sử dụng để liên lạc vào việc phạm tội và số tiền 400.000 đồng thu giữ của Vũ Thị T là số tiền do T bán ma tuý trái phép mà có cần tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước.
- Quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho T nên không đặt ra xem xét xử lý.
- Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố: Bị cáo Vũ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Vũ Thị T 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18-6-2024.
- Căn cứ vào c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đặng Văn B1 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18-6-2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho hủy cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 bộ quần áo; tịch thu hoá giá sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động và số tiền 400.000 đồng là số tiền Vũ Thị T bán trái phép chất ma tuý mà có. (Vật chứng được ghi chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số: 07/2024 lập ngày 15-10-2024 tại CH)
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc: Các bị cáo Vũ Thị T và Đặng Văn B1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Vũ Thị T và Đặng Văn B1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Thơm cùng đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
