|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 87/2024/HS - ST Ngày: 24 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thọ – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thanh T, sinh năm 2003 tại xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm X ĐV5, Hải Thanh, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn G, sinh năm 1968, con bà Trần Thị T1, sinh năm 1970; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 05/7/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.
- Bị hại: Chị Phạm Như M, sinh ngày 13/8/2010; địa chỉ: Xóm X, H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”;
+ Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1982 và ông Phạm Minh H1, sinh năm 1979, địa chỉ: Xóm X, H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; “có mặt”.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị B – Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, “có mặt”.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị T1; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội Facebook, cháu Phạm Như M, sinh ngày 13/8/2010, trú tại xóm X, xã H (nay là xã H), huyện H, tỉnh Nam Định làm quen kết bạn với Vũ Thanh T. Từ đó T và cháu M thường xuyên nhắn tin qua lại và nảy sinh tình cảm với nhau.
Khoảng 19 giờ ngày 16/6/2024, M gọi qua Facebook rủ T đi chơi, T đồng ý và điều khiển xe máy biển kiểm soát 18HA-089.97 đến khu vực nhà thờ Y, thuộc xóm Đ, xã H đón M ra thị trấn Y chơi. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, do M không muốn về nhà nên T rủ M đến nhà T ngủ, M đồng ý. Sau đó T chở M về nhà ở xóm X ĐV5, xã H (nay là xã H) và dẫn M lên phòng riêng của T ở tầng hai ngủ. Khoảng 01 giờ ngày 17/6/2024, T tỉnh dậy thấy M đang nằm ngủ bên cạnh nên nảy sinh ý định muốn quan hệ tình dục với M. Lúc này M đang nằm nghiêng trái quay mặt về phía T, T xoay người nằm nghiêng phải mặt đối diện với M, dùng tay phải gối đầu cho M thì M tỉnh dậy. T đưa mặt sát vào mặt M rồi hôn môi M, M đồng ý và hôn lại T. T dùng tay trái luồn từ phần dưới bụng vào bên trong xoa, bóp hai bên vú cháu M, tiếp đó T dùng tay phải luồn vào trong quần đùi và quần lót của cháu M vuốt ve bên ngoài âm đạo rồi dùng ngón trỏ đưa ra đưa vào bên trong âm đạo của cháu M để kích thích và nói “Cho anh quan hệ tý nhé”, M gật đầu đồng ý. T cởi quần áo của mình và giúp cháu M cỏi bỏ quần áo, sau đó T dùng hai tay đẩy hai chân đang co của cháu M dạng sang hai bên rồi đưa người vào giữa hai chân của cháu M và nằm đè lên người M rồi đưa dương vật đang cương cứng vào sâu bên trong âm đạo của M quan hệ tình dục khoảng 05 phút thì T và M đổi tư thế quan hệ, cháu M nằm úp mặt, hai chân quỳ xuống gường, mông chổng về phía sau, T quỳ gối phía sau đối diện với âm đạo M, hai tay ôm hông M rồi đưa dương vật vào trong âm đạo M quan hệ được khoảng 5 phút thì xuất tinh vào bên trong âm đạo cháu M. Sau đó, T và cháu M ôm nhau ngủ đến sáng ngày 17/6/2024 thì M đi bộ về nhà. Sau khi biết sự việc, gia đình cháu M có đơn đề nghị xử lý T theo quy đinh của pháp luật. Ngày 26/6/2024, Vũ Thanh T đã đến Công an huyện H đầu thú.
Tại bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 37/KLKNTD-TTGĐYK&PY ngày 05/7/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H đối với cháu Phạm Như M kết luận: Màng trinh rách cũ ở vị trí 6 giờ; Trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài của Phạm Như M không thấy tổn thương do ngoại lực; không thấy hình ảnh tinh trùng trên phiến đồ âm đạo.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 38/KLKNTD-TTGĐYK&PY ngày 05/7/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H giám định pháp y tình dục đối với Vũ Thanh T kết luận: Tại thời điểm giám định đủ khả năng cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.
Bản cáo trạng số 88/CT - VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Vũ Thanh T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có khiếu nại gì và ăn năn hối cải về hành vi của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Thanh T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Trần Thị B – Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về điều luật áp dụng áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo để xét xử nghiêm nhằm răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân của bị cáo là người không có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Vũ Thị H và ông Phạm Minh H1 tại phiên tòa khai nhận, trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã tác động gia đình hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000đ. Tại phiên tòa không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo và hình phạt áp dụng ở mức thấp nhất có thể để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều tuân thủ đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng; tại phiên tòa: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Do có quan hệ tình cảm với nhau nên khoảng 01 giờ ngày 17/6/2024, tại phòng ngủ tầng hai của gia đình Vũ Thanh T, ở xóm X ĐV5, xã H (nay là xã H) huyện H, tỉnh Nam Định, bị cáo Vũ Thanh T đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Phạm Như M, sinh ngày 13/8/2010 (13 tuổi 10 tháng 04 ngày). Vì vậy, hành vi của Vũ Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Vũ Thanh T là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hậu quả hành vi của mình. Mặc dù việc quan hệ tình dục là sự đồng thuận của cả hai, không bên nào ép buộc bên nào. Nhưng hành vi của bị cáo đã xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt tình dục đối với người chưa đủ 16 tuổi. Mục đích của bị cáo là lợi dụng sự non nớt về nhận thức của bị hại để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nên cần phải bị xử lý hình sự. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong dư luận và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội. Do đó cần xử lý nghiêm, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Vũ Thanh T đã đến cơ quan Công an để đầu thú, quá trình điều tra T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại nên bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và sau khi bị tạm giữ được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo đã ăn năn hối cải và chấp hành đúng đường lối chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước. Do vậy, thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách phù hợp Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động gia đình hỗ trợ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng nên về phần bồi thường dân sự không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trách nhiệm dân sự.
[7] Ông Vũ Văn G và bà Trần Thị T1 là bố mẹ của bị cáo đều không biết việc bị cáo T đưa cháu M về nhà ở của mình và thực hiện hành vi quan hệ tình dục nên không xử lý ông G, bà T1 là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 145; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thanh T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Vũ Thanh T 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến 05/7/2024).
Giao bị cáo Vũ Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo Vũ Thanh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú" đối với bị cáo Vũ Thanh T.
-
Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Vũ Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 87/2024/HS - ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (hình sự)
- Số bản án: 87/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ cáo bị kết tội
