Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 26 – 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Nhị Hường

2. Bà Hoàng Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST- HS ngày 31/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST- HS ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hiền D, sinh năm 1979; tại: tỉnh Đồng Nai.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 9/12.

    Nơi cư trú: Tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Nguyễn Thượng H, sinh năm 1942 (đã chết), Mẹ: Trần Thị M, sinh năm 1949 (đã chết); Bị cáo có 06 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1969, nhỏ nhất sinh năm 1987, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo có Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1982, có con là Nguyễn Hoàng Kim N, sinh năm 2023.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  2. Cao Thanh L, sinh năm 1988; tại: tỉnh Bình Phước.

    Tên gọi khác: T; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12.

    Nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Cao Văn K, sinh năm 1944, Mẹ: Trần Thị N1, sinh năm 1952; Bị cáo có 10 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1992, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: 01 tiền sự.

    Ngày 27/10/2021, bị TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng tại Quyết định số 10/QĐ-TA. Đến ngày 03/12/2023 chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc. Đến ngày phạm tội (ngày 13/3/2024) thì chưa được xóa tiền sự theo quy định.

    Nhân thân:

    Ngày 27/3/2007, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 40/2007/HSST; Ngày 06/3/2008, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bản án số 40/2007/HSST ngày 27/3/2007 của TAND huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước thành hình phạt chung của hai bản án là 24 tháng tù tại Bản án số: 13/2008/HSST. Đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật; Ngày 15/6/2010, bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số: 16/2010/HSST. Đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật; Ngày 16/3/2016, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng tiền phạt theo quy định; Ngày 22/8/2016, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng tiền phạt theo quy định; Ngày 05/3/2018, bị TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng tại Quyết định số 07/QĐ-TA. Đến ngày 24/01/2020 chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã T bắt quả tang.

    Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  3. Nguyễn Thị N2, sinh năm 1972 tại: tỉnh Bình Phước.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12.

    Nơi cư trú: Tổ F, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Nguyễn Văn N3, sinh năm 1949 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1956; Bị cáo có 06 chị em ruột, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 1986; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất 19895, nhỏ nhất sinh năm 2010; có chồng nhưng đã ly hôn.

    Tiền sự: Không.

    Tiền án: 01 tiền án.

    Ngày 26/11/2008, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Chứa mại dâm” tại Bản án số: 124/2008/HSST.

    Ngày 10/12/2008, Viện KSND huyện B (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước đã ban hành Quyết định Kháng nghị số: 01/QĐ-KNPT đối với Bản án số: 124/2008/HSST ngày 26/11/2008 của TAND huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước để yêu cầu TAND tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm. Đến ngày 24/3/2009, Nguyễn Thị N2 bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm” tại Bản án số: 20/2009/HSPT.

    Sau đó Nguyễn Thị N2 được hoãn chấp hành thi hành án hình phạt tù đối với Bản án số: 20/2009/HSPT ngày 24/3/2009 của TAND tỉnh Bình Phước.

    Đến ngày 06/10/2019, Nguyễn Thị N2 đã đến Trại giam A1 – Cục C1 Bộ C2 để chấp hành án, đến ngày 01/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù do được đặc xá. Như vậy, tính đến ngày phạm tội mới (ngày 13/3/2024) thì Nguyễn Thị N2 chưa được xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  4. Nguyễn Thị P, sinh năm 1982 tại: tỉnh Tiền Giang.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ.

    Nơi cư trú: Tổ A, ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Nguyễn Văn D1, sinh năm 1963, Mẹ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1967; Bị cáo có 04 chị em ruột, lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất không rõ năm sinh, bị can là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có chồng là Cao Anh D2, sinh năm 1975; Bị cáo có 02 người con: Cao Thị H2, sinh năm 2001, Cao Thị N4, sinh năm 2006.

    Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  5. Lương Thị V, sinh năm 1986; tại: tỉnh Bắc Giang.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 12/12.

    Nơi cư trú: Tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Lương Xuân T1, sinh năm 1962, Mẹ: Ngô Thị H3, sinh năm 1967; Bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 1997; Bị cáo có chồng là Phạm Minh H4, sinh năm 1983, bị cáo có 02 người con là Phạm Lương Minh H5, sinh năm 2007 và Phạm Lương Yến N5, sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  6. Nguyễn Quốc N6, sinh 2002; tại: tỉnh Bình Phước.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12.

    Nơi cư trú: Tổ 1, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Nguyễn Văn P1, sinh năm 1960, Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1963; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

  7. Tạ Thị H6, sinh năm 1963 tại: tỉnh Bình Phước.

    Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12.

    Nơi cư trú: Tổ D, ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

    Cha: Tạ Hữu G1 (đã chết), Mẹ: Trần Thị H7 (đã chết); Bị cáo có 10 anh em ruột, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Bị cáo có chồng là Đoàn Đình H8 (đã chết); Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2003.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Ngày 13/3/2024 cùng đồng phạm có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền tại tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã T bắt quả tang. Đến ngày 13/5/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 13/3/2024, Nguyễn Hiền D đã chuẩn bị chăn, bài để cho Nguyễn Thị P, Cao Thanh L; Nguyễn Thị N2, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6, Tạ Thị H6 và Nguyễn Hiền D cùng nhau tham gia chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Cào binh 6 lá”, mỗi ván bài đặt cược từ 100.000 đồng - 200.000 đồng/01 người chơi, không thu tiền xâu. Cả nhóm chơi đánh bạc ngay tại nhà của Nguyễn Hiền D thuộc tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.

Cách thức đánh bạc như sau: Cả nhóm sử dụng một bộ bài Tây, loại bài 52 lá để chia đều cho mỗi người chơi 06 lá bài. Bộ bài tây 52 lá có các lá bài in số theo thứ tự từ bé đến lớn là 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K, A (Át), 2 (heo), mỗi loại bài có 04 chất cơ, rô (cùng màu đỏ), chuồn, bích (cùng màu đen). Sau khi chia bài xong, những người chơi sẽ xếp bài thành 02 chi, mỗi chi có 03 lá bài sao cho khi cộng điểm của tất cả các lá bài mỗi chi sẽ đạt được điểm số cao nhất. Chi bài nào có số điểm cao hơn thì xếp ở trên, thấp điểm hơn thì xếp ở dưới. Sau khi xếp bài xong, nhà con sẽ tiến hành so kết quả từng chi bài với nhà cái.

Cách tính điểm như sau: Chi bài lớn nhất là 3 cào (3 lá bài hình mặt người), số điểm thấp nhất là 0 điểm và cao nhất sẽ là 9 điểm. Điểm số là 3 chữ số thì điểm sẽ được tính ở hàng đơn vị và người chơi nào mà các chi bài có số điểm cao hơn sẽ là người chiến thắng trong ván bài. Nếu nhà con thắng điểm nhà cái thì sẽ nhận được số tiền cược tương ứng, còn thua điểm thì sẽ mất số tiền đã cược. Chi bài bằng điểm thì là hòa (không mất tiền cược).

Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi cả nhóm đang chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước tiến hành bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 5.200.000 đồng (năm triệu hai trăm nghìn đồng), thu giữ trên người của Nguyễn Thị P số tiền 890.000 đồng dùng để đánh bạc, 01 (một) bộ bài Tây, loại bài 52 lá đang sử dụng và 01 (một) cái chăn màu nâu. Như vậy, tổng số tiền khi bị bắt quả tang là 6.090.000 đồng (sáu triệu không trăm chín mươi nghìn đồng). Trong đó, xác định số tiền dùng để đánh bạc, bao gồm: Thu giữ trên chiếu bạc tại vị trí Nguyễn Hiền D đang ngồi số tiền 700.000 đồng, thu giữ trên chiếu bạc tại vị trí Lương Thị V số tiền 1.250.000 đồng, thu giữ tại vị trí Cao Thanh L số tiền 2.400.000 đồng, thu giữ tại vị trí Nguyễn Thị N2 số tiền 850.000 đồng và thu giữ trên người của Nguyễn Thị P số tiền 890.000 đồng. Trong lúc lực lượng Công an xã T tiến hành bắt quả tang thì Tạ Thị H6 mang theo số tiền dùng để đánh bạc là 420.000 đồng và Nguyễn Quốc N6 mang theo số tiền dùng để đánh bạc là 900.000 đồng bỏ chạy thoát, sau đó H6 và N6 đến Công an huyện H trình diện và Tạ Thị H6 đã giao nộp số tiền 420.000 đồng.

Như vậy, quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6, Tạ Thị H6 sử dụng để tham gia đánh bạc là 7.410.000 đồng (bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ của vụ án:

  • + Tiền mặt 5.200.000 đồng;
  • + 01 (một) bộ bài Tây, loại 52 lá đang sử dụng;
  • + 01 (một) cái chăn màu nâu;

Thu giữ trên người khi bắt quả tang:

  • + Thu giữ trên người Nguyễn Hiền D: Số tiền 9.030.000 đồng;
  • + Thu giữ trên người Nguyễn Thị P: Số tiền 850.000 đồng;
  • + Thu giữ trên người Nguyễn Thị N2: Số tiền 130.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 6.510.000đ (sáu triệu năm trăm mười nghìn đồng), trong đó bao gồm: 5.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, 890.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Thị P và 420.000 đồng do Tạ Thị H6 tự nguyện giao nộp. Đây là số tiền các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 (một) bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) cái chăn màu nâu. Quá trình điều tra xác định đây là công cụ để các bị can thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 9.030.000 đồng (chín triệu không trăm ba mươi nghìn đồng), đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hiền D không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại số tiền trên cho Nguyễn Hiền D theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Đối với số tiền 130.000 đồng (một trăm ba mươi nghìn đồng), đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị N2 không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại số tiền trên cho Nguyễn Thị N2 theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Quốc N6 khi bỏ chạy trốn và mang theo số tiền dùng để đánh bạc là 900.000 đồng. Vì vậy, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên truy thu của Nguyễn Quốc N6 số tiền 900.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 phạm tội “Đánh bạc".

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền D mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền từ 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng đến 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Cao Thanh L mức hình phạt từ 12 (Mười hai) đến 14 (Mười bốn) tháng tù.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N2 mức hình phạt từ 08 (T) đến 10 (Mười) tháng tù.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền từ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lương Thị V mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền từ 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng đến 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễ Quốc N7 mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền từ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 ( được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Tạ Thị H6 mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền từ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng đến 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.

Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên như đề nghị của nội dung bản cáo trạng.

Các bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo nhận thức được hành vị đánh bạc của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Nội dung được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ, ngày 13/3/2024, Nguyễn Hiền D chuẩn bị chăn, bài để cho Nguyễn Thị P, Cao Thanh L; Nguyễn Thị N2, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6, Tạ Thị H6 và Nguyễn Hiền D cùng nhau chơi đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Cào binh 6 lá” tại nhà của Nguyễn Hiền D thuộc tổ F, ấp Đ - S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày khi cả nhóm đang chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền thì bị lực lượng Công an xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.200.000 đồng (năm triệu hai trăm nghìn đồng), thu giữ trên người của Nguyễn Thị P khi bắt quả tang số tiền 890.000 đồng, Tạ Thị H6 giao nộp 420.000 đồng, Nguyễn Quốc N6 bỏ chạy mang theo số tiền 900.000 đồng.

Như vậy tổng số tiền Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6, Tạ Thị H6 sử dụng để tham gia đánh bạc là 7.410.000 đồng (bảy triệu bốn trăm mười nghìn đồng).

Hành vi trên của Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6, Tạ Thị H6 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu giữ được trong vụ án. Như vậy, có đủ sơ sở để kết luận: Hành vi sử dụng số tiền 7.410.000 đồng để đánh bạc của các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo hiểu được đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền dưới hình thức thắng thua bằng tiền nên vẫn cố ý thực hiện, cho thấy các bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần xử lý các bị cáo mức án phù hợp để giáo dục, răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn; các bị cáo gặp nhau và cùng nhau đánh bạc. Tuy nhiên, cần căn cứ vai trò của từng bị cáo, tiền án, tiền sự, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc và nhân thân của từng bị cáo để áp dụng hình phạt cho phù hợp.

[5] Về trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Nguyễn Thị N2, ngày 26/11/2008, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội “Chứa mại dâm” tại Bản án số: 124/2008/HSST; Ngày 10/12/2008, Viện KSND huyện B (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước đã ban hành Quyết định Kháng nghị số: 01/QĐ-KNPT đối với Bản án số: 124/2008/HSST ngày 26/11/2008 của TAND huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước để yêu cầu TAND tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm. Đến ngày 24/3/2009, Nguyễn Thị N2 bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm” tại Bản án số: 20/2009/HSPT; Sau đó Nguyễn Thị N2 được hoãn chấp hành thi hành án hình phạt tù đối với Bản án số: 20/2009/HSPT ngày 24/3/2009 của TAND tỉnh Bình Phước; Đến ngày 06/10/2019, Nguyễn Thị N2 đã đến Trại giam A1 – Cục C1 Bộ C2 để chấp hành án, đến ngày 01/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù do được đặc xá. Như vậy, tính đến ngày phạm tội mới (ngày 13/3/2024) thì Nguyễn Thị N2 chưa được xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015 nên lần này phạm tội bị cáo N2 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo biết rõ việc đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép là bị pháp luật cấm nhưng vẫn có ý tực hiện, bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt 5 năm tù, bị cáo đã chấp hành hình phạt tù xong nhưng chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật, khó cải tạo, nên cần xử lý bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo để bị cáo nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Bị cáo Nguyễn Hiền D là chủ nhà và chuẩn bị công cụ, phương tiện và địa điểm để cùng nhau đánh bạc nhưng không thu tiền xâu nên bị cáo có vai trò chủ động, tích cực hơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Trong vụ án thì bị cáo L là người sử dụng số tiền vào việc đánh bạc nhiều nhất là 2.400.000 đồng, bị cáo V là người sử dụng số tiền vào việc đánh bạc nhiều thứ 2 là 1.250.000 đồng và các bị cáo N6, P, N2, D và H6 sử dụng số tiền đánh bạc lần lượt là 900.000 đồng, 890.000 đồng, 850.000 đồng, 700.000 đồng và 420.000 đồng.

- Bị cáo Cao Thanh L có 01 tiền sự và nhân thân rất xấu: Ngày 27/3/2007, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 40/2007/HSST; Ngày 06/3/2008, bị TAND huyện Bình Long (nay là thị xã B), tỉnh Bình Phước xử phạt 12 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và tổng hợp hình phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” của Bản án số 40/2007/HSST ngày 27/3/2007 của TAND huyện Bình Long, tỉnh Bình Phước thành hình phạt chung của hai bản án là 24 tháng tù tại Bản án số: 13/2008/HSST. Đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật; Ngày 15/6/2010, bị TAND tỉnh Bình Phước xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số: 16/2010/HSST. Đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật; Ngày 16/3/2016, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng tiền phạt theo quy định; Ngày 22/8/2016, bị Công an huyện H, tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng tiền phạt theo quy định; Ngày 05/3/2018, bị TAND huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 24 tháng tại Quyết định số 07/QĐ-TA. Đến ngày 24/01/2020 chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện xem thường pháp luật và là đối tượng khó cải tạo, giáo dục nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đối với các bị cáo Nguyễn Hiền D, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, tỏ vẻ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sử dụng số tiền không lớn vào việc đánh bạc, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo Nguyễn Hiền D, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cùng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo, rèn luyện bản thân trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với số tiền 900.000đ bị cáo Nguyễn Quốc N6 sử dụng đánh bạc, khi bị bắt N6 bỏ chạy cầm theo số tiền này. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện nộp lại nên truy thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tại phiên tòa đề đại diện Viện kiểm sát đề nghị như nội dung bản cáo trạng là phù hợp, đúng quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Các vật chứng khác trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng quy định như nên trên, các bị cáo và những người liên quan không ý kiến, khiếu nại gì nên không tiếp tục xem xét.

[7] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6 phạm tội “Đánh bạc".

  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hiền D mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Cao Thanh L mức hình phạt 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N2 hình phạt 08 (T2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lương Thị V mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễ Quốc N7 mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Tạ Thị H6 mức hình phạt chính là hình phạt tiền, với số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
  3. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Tuyên:

    • - Tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước: Số tiền 6.510.000đ (Sáu triệu năm trăm mười nghìn) đồng, trong đó bao gồm: 5.200.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc, 890.000 đồng thu giữ trên người Nguyễn Thị P và 420.000 đồng do Tạ Thị H6 tự nguyện giao nộp.
    • - Truy thu từ bị cáo Nguyễn Quốc N6 số tiền 900.000 (Chín trăm nghìn) đồng là số tiền bị cáo dùng đánh bạc để nộp Ngân sách nhà nước theo quy định.
    • - Tịch thu, tiêu hủy: Đối với 01 (một) bộ bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 01 (một) cái chăn màu nâu.

    (Các vật chứng được mô tả và đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo Quyết định chuyển vật chứng số 59/QĐ-VKS ngày 29/7/2024 và Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản số 0006017 ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước).

  4. Án phí hình sự sơ thẩm:

    Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Q.

    Các bị cáo Nguyễn Hiền D, Cao Thanh L, Nguyễn Thị N2, Nguyễn Thị P, Lương Thị V, Nguyễn Quốc N6 và Tạ Thị H6, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo:

    Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận :TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh Bình Phước;

- VKSND tỉnh Bình phước;

- VKSND huyện Hớn Quản;

- Công an huyện Hớn Quản;

- Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;

- Phòng HSNV CA tỉnh Bình Phước;

- Chi cục THADS huyện Hớn Quản;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ; Lưu trữ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger