TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HSST Ngày: 20 - 9 - 2024. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lương Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Hồng;
- Ông Hoàng Văn Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Tô Kim T, sinh năm 1986 Giới tính: Nam
Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Tô Kim M và bà Lưu Thị L (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không;
Tiền án: Bản án số 69/2019/HSST ngày 20/3/2015 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bản án số 186/2019/HSST ngày 14/6/2019 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Nhân thân: Bản án số 186/HSST ngày 28/9/2005, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo; Bản án số 132/HSST ngày 29/6/2006 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 221/HSST ngày 19/11/2008 Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/5/2024 đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
* Người chứng kiến:
- Anh Lê Văn L1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/5/2024 Tô Kim T đi bộ từ nhà đến khu vực gầm cầu T thuộc thôn L, xã T, huyện T mục đích tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ nghi ngờ người này có ma túy bán, T hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy loại H, người này nhận tiền và đưa cho T 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1618 gam, bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Biết đây là ma túy, T nhận và cất vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện. Quá trình làm việc T đã tự giác lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy mua về mục đích để sử dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định số 645/KL – KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1618 gam”.
Bản cáo trạng số 91/CT-VKSTH ngày 26/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Tô Kim T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Tô Kim T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: bị cáo Tô Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Tô Kim T từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 13/5/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện T;
- Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T lập ngày 13/5/2024;
- Bản kết luận giám định số 645/KL – KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;
- Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến là anh Lê Văn L1 và anh Phạm Văn Đ.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 13/5/2024 tại đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, Công an huyện T phát hiện bắt quả tang Tô Kim T có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1618 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo Tô Kim T có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Do đó hành vi phạm tội này của bị cáo Tô Kim T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamin, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o, Tái phạm nguy hiểm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo tàng trữ 0,1618 gam heroine với mục đích để sử dụng, bị cáo có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích. Vì vậy cần áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự để xét xử đối với bị cáo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tô Kim T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
* Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không nhằm bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,1340 gam (không phẩy một nghìn ba trăm bốn mươi gam) Heroin hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy cùng toàn bộ bao gói quản lý của Tô Kim T được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 645/KL – KTHS của phòng K Công an tỉnh T.
[7] Về nguồn gốc số Heroine mà cơ quan Công an thu giữ của Tô Kim T, T khai mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực gầm cầu T thuộc thôn L, xã T, huyện T với giá 100.000 đồng. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không đủ cơ sở điều tra, xác minh, làm rõ người đã bán ma túy cho T để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8]. Về án phí: Bị cáo Tô Kim T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tô Kim T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tô Kim T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1340 gam (không phẩy một nghìn ba trăm bốn mươi gam) Heroin hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói quản lý của Tô Kim T.
(Thể hiện chi tiết biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
- Về án phí: Bị cáo Tô Kim T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/9/2024).
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Hải Yến |
Bản án số 87/2024/HSST ngày 20/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Kim T - phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
