Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/DS-ST

Ngày: 09-9-2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Chính

Ông Võ Văn Chanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 276/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm: 1962; địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (xin vắng).

Bị đơn: Bà Hồ Kim N, sinh năm: 1972; địa chỉ cư trú: Khóm S, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (xin vắng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hoàng P, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Khóm S, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau (vắng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Mỹ H trình bày:

Hồ Kim N làm chủ hụi, bà H là hụi viên; ngày 15/01/2022 âm lịch bà H tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 48 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 05 chưng hụi, hốt 1 chưng, còn 04 chưng sống đóng 36 lần được 144.000.000 đồng; ngày 15/01/2022 âm lịch bà H tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 48 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 05 chưng hụi, đóng 36 lần được 180.000.000 đồng; hai dây hụi này bà N đình hụi vào ngày 15/6/2023 âm lịch; dây hụi thứ ba: Ngày 20/4/2022 âm lịch tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 46 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 06 chưng hụi, đóng 29 lần được 174.000.000 đồng, đình hụi ngày 06/6/2023 âm lịch.

Tổng 3 dây hụi bà N nợ bà H là 498.000.000 đồng, cấn trừ 12.000.000 đồng tiền hụi chết, cấn trừ với phần tiền hụi khác 57.000.000 đồng, bà N chuyển trả 1.000.000 đồng vào tài khoản. Hai bên có ký đối chiếu xác nhận nợ với nhau số tiền bà N còn nợ lại bà H là 428.000.000 đồng.

H yêu cầu bà N và ông P có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà H tổng số tiền hụi là 428.000.000 đồng. Về lãi suất không yêu cầu.

* Bị đơn bà Hồ Kim N trình bày:

Tôi là chủ hụi, bà H là hụi viên, cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ nhất: Ngày 15/01/2022 âm lịch tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 48 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 05 chưng hụi, hốt 01 chưng, còn 04 chưng sống đóng 36 lần được 144.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ hai: Ngày 15/01/2022 âm lịch tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 48 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 05 chưng hụi, đóng 36 lần được 180.000.000 đồng.

Hai dây hụi này bà N đình hụi vào ngày 15/6/2023 âm lịch.

- Dây hụi thứ ba: Ngày 20/4/2022 âm lịch tham gia dây hụi 1.000.000 đồng, 46 chưng, khui 2 lần/tháng (ngày 15, 30), bà H tham gia chơi 06 chưng hụi, đóng 29 lần được 174.000.000 đồng.

Đình hụi ngày 06/6/2023 âm lịch.

Tổng 3 dây hụi bà N nợ bà H là 498.000.000 đồng, cấn trừ 12.000.000 đồng tiền hụi chết, cấn trừ với phần tiền hụi khác 57.000.000 đồng, bà N chuyển trả 1.000.000 đồng vào tài khoản. Hai bên có ký đối chiếu xác nhận nợ với nhau số tiền bà N còn nợ lại bà H là 428.000.000 đồng.

N đồng ý thanh toán cho bà H tổng số tiền hụi còn nợ là 428.000.000 đồng. Bà N đề nghị ông Trần Hoàng P có trách nhiệm liên đới trả nợ cho bà H vì tiền hụi để lo cho cuộc sống gia đình. Hụi này bà N làm chủ và mở hụi tại nhà, việc này ông Trần Hoàng P (hiện nay đã ly hôn) cũng có biết và không có ý kiến gì, thu nhập từ hụi cũng để chi tiêu trong gia đình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng P không có ý kiến đối với vụ án.

* Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật nên không có kiến nghị.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận khởi kiện của bà H buộc bà N và ông P liên đới thanh toán tổng số tiền hụi 428.000.000 đồng cho bà H. Án phí bị đơn chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng

H và bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Ông Trần Hoàng P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 02 nhưng vắng mặt, áp dụng vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt đối với ông P là có căn cứ.

[2] Về nội dung

[2.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp

H khởi kiện bà N và ông P yêu cầu thanh toán tiền hụi còn nợ, quan hệ pháp luật là: “Tranh chấp tiền hụi”.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn

H khởi kiện cho rằng bà N nợ tiền hụi do bà N làm chủ, trong thời gian giao dịch hụi bà N đình hụi, số tiền hụi bà H là hụi sống bà N chưa hoàn trả làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H nên có cơ sở xem xét yêu cầu khởi kiện của bà H.

Thấy rằng: Tại bản tự khai ngày 16/4/2024, biên bản hòa giải của Tòa án 22/4/2024 bà N thừa nhận còn nợ bà H tiền hụi 428.000.000 đồng, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

Do đó, xác định bà N còn nợ tiền hụi bà H là có thật và buộc thanh toán là có căn cứ.

[2.3] Xác định nghĩa vụ thanh toán

Khoản tiền bà N nợ bà H là nợ tiền hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà N với ông P, bà N thừa nhận có nợ bà H khoản tiền trên và yêu cầu ông P cùng có trách nhiệm thanh toán. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án ông P nhận được thông báo của Tòa án nhưng không phản đối ý kiến của bà N. Thấy rằng, việc bà N làm chủ hụi mục đích kiếm thêm thu nhập cho gia đình, do nhiều người không đóng hụi chết nên phải đình hụi và thiếu hụi viên còn nuôi hụi sống. Mặt khác, tại Bản án hôn nhân số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 01/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn đã có hiệu lực pháp luật, phía ông P thừa nhận kinh tế do bà N quản lý để chi tiêu cho gia đình, nên việc bà N làm hụi và nợ tiền hụi cũng vì mục đích phục vụ cho nhu cầu thiết yếu gia đình.

Theo quy định tại Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trách nhiệm liên đới của vợ, chồng; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Vì vậy, buộc ông P có trách nhiệm cùng bà N thanh toán tiền hụi cho bà H là phù hợp.

Từ những phân tích trên, buộc bà N và ông P thanh toán cho bà H 428.000.000 đồng, do ông bà đã ly hôn nên mỗi người chịu trách nhiệm trả ½ = 214.000.000 đồng. Các đương sự chậm trả còn phải chịu lãi suất trên tổng số tiền chậm thi hành án.

Về lãi suất: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

[3] Ý kiến của kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí: Bà N và ông P phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần thực hiện nghĩa vụ cho bà H, cụ thể: 428.000.000 đồng x 5% = 21.120.000 đồng; ông P và bà N mỗi người chịu ½ = 10.560.000 đồng.

H thuộc trường hợp được miễn án phí nên không dự nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Mỹ H về việc khởi kiện yêu cầu bà Hồ Kim N và ông Trần Hoàng P thanh toán tiền hụi. Buộc bà Hồ Kim N và ông Trần Hoàng P thanh toán tiền hụi cho bà Đỗ Thị Mỹ H 428.000.000 đồng, mỗi người có trách nhiệm thanh toán ½ = 214.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thanh toán tại thời điểm thi hành án.

- Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bà N phải chịu 10.560.000 đồng; ông P phải chịu 10.560.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Năm Căn;
  • - Chi cục THADS huyện Năm Căn;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Thùy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 87/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hụi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger