|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 30 tháng 8 năm 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Thắng và Nguyễn Thị Ngọc Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Quốc V (Việt Ba C), sinh ngày 07/7/1984. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện nay: ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C1, sinh năm 1954 và bà Trần Thị L, sinh năm 1958; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Ngày 03/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/5/2013, chấp hành xong bản án. Ngày 11/5/2016, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 09 năm tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Ngày 04/10/2021, chấp hành xong bản án.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/02/2024, đến ngày 15/02/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn Vũ L1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng: Ông Nguyễn Chí H (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 08/02/2024, Công an xã T, huyện T nhận được tin báo của người dân qua điện thoại tại khu vực ấp B, xã T, huyện T có đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngay sau đó, Công an huyện T phối hợp với Công an xã T đến khu vực trên dừng phương tiện kiểm tra hành chính xe mô tô biển số 67M1-465.47 do Lê Quốc V điều khiển, phát hiện trong ví da màu nâu của V cất giấu 01 đoạn băng keo màu trắng được hàn kín; trong túi quần Jean sau có 01 hộp kim loại, bên trong hộp chứa 05 đoạn ống hút nhựa màu xanh, cam được hàn kín và phía sau ốp lưng nhựa điện thoại có 01 bọc nylon trong suốt được hàn kín, tất cả bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên dẫn giải V về trụ sở Công an xã T làm việc. Tại đây, V khai: Tinh thể màu trắng trong đoạn băng keo màu trắng, trong 05 đoạn ống hút nhựa màu xanh, cam và trong 01 bọc nylon trong suốt bị thu giữ là ma túy đá.
Ngày 06/02/204, V sử dụng sim điện thoại số 0931.559.xxx gọi vào điện thoại của Đ (không nhớ số và không rõ nhân thân của Đ) đặt mua 1.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng, Đ đồng ý. V điều khiển xe mô tô biển số 67M1-465.47 đến khu vực cầu T tại thành phố L, tỉnh An Giang có một thanh niên không rõ nhân thân đến nhận tiền, giao ma túy cho V. Xong, V mang ma túy về nhà lấy ra một phần sử dụng, phần còn lại V chia ra nhiều phần nhỏ cất giấu trong người để tiếp tục sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án đã nêu.
Vật chứng thu giữ: Số tiền 20.049.000 đồng, một xe mô tô biển số 67M1-465.47, điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, ốp lưng nhựa điện thoại màu xanh đen, hộp kim loại, ví da màu nâu.
Tại Kết luận giám định số 222 ngày 14/02/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M₁ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0, 1243g; mẫu M₂ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7176g; mẫu M₃ gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6378g. Tổng khối lượng là 1,4797g Methamphetamine.
Kết luận giám định số 579 ngày 27/6/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Không tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định do không có mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại.
Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 08/02/2024 của Công an xã T, ghi nhận: Lê Quốc V dương tính với Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSTS, ngày 12/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Lê Quốc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Vũ L1, người làm chứng Nguyễn Chí H trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Quốc V mức án từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người làm chứng Nguyễn Chí H vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, ông H đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Lê Quốc V đã bị kết án về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích; ngày 08/02/2024, Công an huyện T phối hợp với Công an xã T kiểm tra hành chính xe mô tô biển số 67M1-465.47 do Lê Quốc V điều khiển, phát hiện trong người bị cáo tàng trữ 1,4797 gam Methamphetamine để sử dụng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải cố gắng làm việc để tạo ra giá trị cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo lại cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng không lớn (1,4797 gam); nhưng về tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[5] Đối với Đ chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy cấm lưu hành và các vật chứng khác liên quan đến vụ án không còn giá trị sử dụng nên tuyên bố tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển số 67M1-465.47 và số tiền 20.049.000 đồng không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo, đối với điện thoại di động hiệu S A31 có liên quan đến vụ án cần tuyên bố tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Quốc V (V) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lê Quốc V 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 02 năm 2024.
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 222/KL-KTHS ngày 14/02/2024, kí hiệu M1) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Đỗ Hồng M. Bên trong có mẫu ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, có khối lượng 0,1027g (không phẩy một không hai bảy gam); 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 222/KL-KTHS ngày 14/02/2024, kí hiệu M2 + M3) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Đỗ Hồng M. Bên trong có mẫu ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, có khối lượng 0,6538g (không phẩy sáu năm ba tám gam); 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 222/KL-KTHS ngày 14/02/2024, kí hiệu M41) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng K, Đỗ Hồng M. Bên trong có mẫu ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi đã giám định, có khối lượng 0,5998g (không phẩy năm chín chín tám gam); 01 (một) ốp lưng nhựa điện thoại màu xanh đen, mặt sau có dán 02 (hai) miếng băng keo màu đen; 01 (một) hộp kim loại, bên ngoài có quấn băng keo màu đen, kích thước (8x3x2)cm; 01 (một) ví da, màu nâu (Tất cả đã qua sử dụng). Tịch thu 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, màu đen, số seri: RF8NC00BTQB, IMEI 1 số: 354565116988183, IMEI 2 số: 354566116988181, sim 1 số: 0914573575, sim 2 số: 0931559932 (đã niêm phong) để sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho bị cáo Lê Quốc V số tiền 20.049.000 đồng (hai mươi triệu không trăm bốn mươi chín ngàn đồng); 01 (một) xe mô tô biển số 67M1-465.47, số máy: KC26E1091438, số khung: 2600GY057149, nhãn hiệu HONDA, số loại: WINNER, màu sơn: Trắng - Cam. (Đặc điểm theo như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2024 và ngày 28/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Quốc V (V) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc V phạm tôi tàng trữ trái pháp chất ma túy
