Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày: 20/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hùng
  2. Ông Nguyễn Danh Long

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Ngô Xuân Tho - Kiểm sát viên.

Ngày 20/8/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Đình T, sinh ngày 12/6/1991 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T1, sinh năm 1960 và con bà Phan Thị T2, sinh năm 1960; vợ: Đào Thị N, sinh năm 1991; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2023; A, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ năm;
    • + Tiền án: Không.
    • + Tiền sự: Quyết định số 224 ngày 21/6/2023 của UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày 21/6/2023 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.
    • + Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2019/HSST ngày 25/4/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/01/2021 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.(Có mặt tại phiên tòa)

1

  1. Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 04/3/1989 tại huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tất G, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963; vợ: Đỗ Thị Lan A, sinh năm 1991 (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2009; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 02;
    • +Tiền sự: Không;
    • +Tiền án:
      • - Bản án hình sự phúc thẩm số 33/2012/HSPT ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”. Các vấn đề khác theo Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2012/HSST ngày 29/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc: Án phí HSST 200.000đ, truy thu 500.000đ. Ngày 16/11/2012 đã chấp hành xong 200.000đ án phí và nộp truy thu 500.000đ.
      • - Bản án hình sự sơ thẩm số 70/2012/HSST ngày 29/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 11 năm tù về tội “Mua bán người” (phạm tội trước nhưng xét xử sau). Tổng hợp với hình phạt của Bản án hình sự sơ phúc thẩm số 33/2012/HSPT ngày 23/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 12 năm 06 tháng tù. Phạt tiền 10.000.000đ, truy thu 10.000.000đ, bồi thường dân sự 16.000.000đ, án phí HSST 200.000đ, án phí dân sự trong vụ án hình sự 800.000đ. Phạt quản chế 03 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 06/6/2017; 08/6/2017; 18/6/2017 Nguyễn Ngọc N1 đã chấp hành xong toàn bộ các khoản án phí, bồi thường dân sự, tiền phạt, truy thu. Ngày 27/02/2023 N1 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)

  1. Lê Văn T3, sinh ngày 23/4/2001 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T4, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; vợ: Lường Thị H1, sinh năm 1998; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023; A, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ 02.
    • + Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024, hiện đang bị Nhà tạm giữ Công an huyện S. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/4/2024, Nguyễn Đình T, trú tại thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, một mình đi đến khu vực bến xe khách thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, tìm mua ma tuý tổng hợp về sử dụng. T gặp và mua của một người đàn không biết tên tuổi, địa chỉ với số tiền 1.300.000 đồng được 01 túi nilon bên trong có 50 viên ma

2

tuý tổng hợp dạng viên nén (trong đó có 48 viên màu hồng, 02 viên màu xanh), thường gọi là “ngựa”. T mang túi ma tuý đến phòng do Nguyễn Ngọc N1, trú tại thôn C, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, thuê ở trọ tại số A khu C, tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi thấy T đến chơi nên N1 nhờ T ở lại trông phòng cho N1 đi chơi mấy ngày. Thời gian ở tại phòng trọ của N1, T đã sử dụng hết 03 viên ma tuý tổng hợp màu hồng bằng hình thức đốt hút vào cơ thể. Số ma tuý còn lại, T để trong túi nilon màu trắng treo trên tường trong phòng trọ.

Đến khoảng 11 giờ ngày 14/4/2024, T tiếp tục đi đến khu vực bến xe khách thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, tìm mua ma tuý tổng hợp về sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời. T gặp và mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ với số tiền 4.500.000 đồng được 01 túi nilon bên trong có tinh thể màu trắng thường gọi là ma tuý “đá”. Tường mang túi ma tuý về phòng trọ của N1 chia số ma tuý vào 37 túi nilon nhỏ màu trắng có viền màu đỏ. Tường cất 37 túi ma tuý vào trong túi nilon màu trắng đựng túi ma tuý tổng hợp dạng viên nén treo trên tường từ trước. Mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác để kiếm lời.

Khoảng 12 giờ cùng ngày 14/4/2024, Lê Văn T3, trú tại thôn T, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, là người sử dụng chất ma tuý, có quen biết và kết bạn zalo với T. T3 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen đỏ biển số 22S1 - 315.13 đến và gọi zalo cho T hỏi mua ma tuý. T đồng ý, bảo T3 đi đến phòng trọ, T3 đưa cho T 300.000 đồng, T đưa lại cho T3 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bị rách ở một góc, bên trong có tinh thể màu trắng lẫn màu hồng là ma tuý tổng hợp (ma tuý đá). T3 một mình điều khiển xe mô tô đi đến khu vực vắng người thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, lấy một ít ma tuý ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Số ma tuý còn lại, T3 chia một ít vào 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ cất vào ngăn ví để trong túi quần phía sau, túi ma tuý còn lại có viền màu đỏ, bị rách một góc, T3 cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đến đoạn đường thuộc tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S thì bị Tổ công tác của Công an thị trấn S đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 13 giờ 40 phút cùng ngày, thu giữ 02 túi nilon màu trắng viền màu đỏ (Trong đó: 01 túi bị rách một góc, bên trong chứa tinh thể màu trắng và hồng; 01 túi bên trong chứa tinh thể màu trắng). T3 khai nhận số ma tuý mua của T. Mục đích T3 tàng trữ để sử dụng.

Khoảng 14 giờ cùng ngày 14/4/2024, N1 đi chơi về đến phòng trọ, thấy T đang ở trong phòng vệ sinh. Nam quan sát và kiểm tra thấy trên tường có treo 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 túi nilon màu xanh có nhiều viên nén màu hồng, 02 viên nén màu xanh và nhiều túi nilon nhỏ màu trắng có viền mép màu đỏ bên trong có tinh thể màu trắng. N1 biết là ma tuý của T, nên đã lấy trộm 01 viên ma tuý tổng hợp màu hồng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có tinh thể màu trắng (ma tuý đá), N1 cho viên ma tuý tổng hợp màu hồng vào túi nilon màu trắng bên trong có tinh thể màu trắng, cất giấu vào túi da màu đen đeo theo người.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện S tiến hành khám xét người, chỗ ở của Nguyễn Đình TNguyễn Ngọc N1 tại phòng thuê trọ số A, khu C M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Phát hiện, thu giữ của:

3

  • + Nguyễn Đình T: 01 túi nilon màu trắng treo trên tường, bên trong có 36 túi nilon (Trong đó: 01 túi nilon màu xanh, dán kín mép, bên trong có 44 viên nén màu hồng có in chữ WY; 02 viên nén màu xanh một mặt in chữ A, một mặt in chữ YI và 35 túi nilon màu trắng có viền mép màu đỏ được khoá kín, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng).
  • + Nguyễn Ngọc N1 giao nộp: Trong túi xách màu đen N1 đang đeo trên người có 01 túi nilon màu trắng, có viền màu xanh, bên trong có 01 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng.

Ngày 14/4/2024, xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Lê Văn T3, Nguyễn Đình T, Nguyễn Ngọc N1 (+) dương tính với ma túy.

Kết luận giám định số 542/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Ngọc N1, ngày 14/4/2024 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,101g (Không phẩy một không một gam). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc N1, ngày 14/4/2024 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,322g (Không phẩy ba hai hai gam).

Kết luận giám định số 543/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng và hồng, số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Văn T3, ngày 14/4/2024 gửi giám định đều là chất ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,451g (Không phẩy bốn năm một gam).

Kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 44 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Đình T, ngày 14/4/2024 gửi giám định đều là chất ma tuý, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 4,589g (Bốn phẩy năm tám chín gam). Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình T, ngày 14/4/2024 gửi giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 10,254g (Mười phẩy hai năm bốn gam).

Vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ:

  • - 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Văn T3. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Văn T3 giám định ngày 15/4/2024".
  • - 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Đình T. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Đình T giám định ngày 15/4/2024".
  • - 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Ngọc N1. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Ngọc N1 giám định ngày 15/4/2024".

4

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 22S1-315.13, xe không có gương bên phải, xe cũ đã qua sử dụng có nhiều vết trầy xước; 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu xanh, số IMEI1: 359471103026514/01, số IMEI2: 359472103026512/01, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0962.595.xxx và 0975035569, máy cũ đã qua sử dụng của Lê Văn T3.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI 1: 860379047725459, số IMEI 2: 860379047725442, bên trong lắp sim số 0399951064, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, số máy MKQ92LL/A, số seri F17QWB7GRXW bên trong lắp sim số 0866595663, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Đình T.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI1: 354258110634314, số IMEI2: 354259110634312, thân máy có nhiều vết vỡ nứt, trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0332.056.xxx và 0568909555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số máy MNCE2J/A, số seri F17SM7KHHG7X bên trong không lắp sim điện thoại, máy cũ đã qua sử dụng của Nguyễn Ngọc N1.

Cáo trạng số 84/CT-VKSSD, ngày 08/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Đình T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 249 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; Lê Văn T3 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Nguyễn Ngọc N1 về tội "Chiếm đoạt chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 252 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Ngọc N1 phạm tội "Chiếm đoạt chất ma túy”.

Về hình phạt:

  • - Áp dụng: Điểm b, g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hành phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành từ 08 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).
  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).
  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).

5

Do các bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Văn T3. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Văn T3 giám định ngày 15/4/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Đình T. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Đình T giám định ngày 15/4/2024; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Ngọc N1. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Ngọc N1 giám định ngày 15/4/2024”.
  • - Truy thu của bị cáo Nguyễn Đình T 300.000đ sung quỹ nhà nước.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Văn T3: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 22S1-315.13, xe không có gương bên phải, xe cũ đã qua sử dụng có nhiều vết trầy xước; 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu xanh, số IMEI1: 359471103026514/01, số IMEI2: 359472103026512/01, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0962.595.xxx và 0975035569, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI 1: 860379047725459, số IMEI 2: 860379047725442, bên trong lắp sim số 0399951064, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, số máy MKQ92LL/A, số seri F17QWB7GRXW bên trong lắp sim số 0866595663, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc N1: 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI1: 354258110634314, số IMEI2: 354259110634312, thân máy có nhiều vết vỡ nứt, trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0332.056.xxx và 0568909555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số máy MNCE2J/A, số seri F17SM7KHHG7X bên trong không lắp sim điện thoại, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

6

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

[1.1] Hành vi tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình T:

  • - Từ ngày 07/4/2024 đến ngày 14/4/2024, tại phòng do Nguyễn Ngọc N1 thuê trọ số A khu C, tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Đình T, cư trú tại thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, đã 02 lần có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:
    • + Lần 1: Từ ngày 07/4/2024 đến ngày 14/4/2024, Nguyễn Đình T đã có hành vi tàng trữ trái phép 50 viên ma tuý tổng hợp. T đã sử dụng hết 03 viên, bị Nguyễn Ngọc N1 lấy trộm 01 viên. Còn lại 44 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh, là chất ma tuý, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 4,589g (Bốn phẩy năm tám chín gam). Mục đích T tàng trữ để sử dụng.
    • + Lần 2: Ngày 14/4/2024, Nguyễn Đình T tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép 35 túi nilon bên trong chứa 10,254g (Mười phẩy hai năm bốn gam) là chất ma túy, loại Methamphetamine. Mục đích T tàng trữ để sử dụng.
  • - Khoảng 12 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Đình T đã có hành vi bán trái phép 01 gói ma tuý với số tiền 300.000 đồng cho Lê Văn T3.

[1.2] Hành vi chiếm đoạt chất ma túy của Nguyễn Ngọc N1:

Ngày 14/4/2024, tại phòng trọ số A khu C, tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Ngọc N1 đã có hành vi chiếm đoạt (trộm cắp) 01 viên ma tuý tổng hợp màu hồng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có tinh thể màu trắng, là chất ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 0,423g (Không phẩy bốn hai ba gam) của Nguyễn Đình T. Mục đích N1 chiếm đoạt để sử dụng cho bản thân.

[1.3] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Lê Văn T3:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 14/4/2024, tại tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Lê Văn T3 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,451g (Không phẩy bốn năm một gam) chất ma túy, loại Methamphetamine. Mục đích T3 tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Nguyễn Đình T5 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 249 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS; Lê Văn T3 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; Nguyễn Ngọc N1 về tội "Chiếm đoạt chất ma túy” theo

7

điểm c khoản 1 Điều 252 BLHS là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn T3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo T có nhân thân xấu năm 2019 đã bị xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Ngọc N1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng Tái phạm, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo; ngoài ra bị cáo Nguyễn Ngọc N1 có ông nội Nguyễn Tất T6 là liệt sỹ, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo N1.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát và Luật sư đề nghị như vậy là phù hợp.

Quá trình điều tra xác định các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Đình T. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Đình T giám định ngày 15/4/2024”; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Ngọc N1. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Ngọc N1 giám định ngày 15/4/2024"; 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Văn T3. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Văn T3 giám định ngày 15/4/2024".

Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

8

  • - Đối với số tiền 300.000đ là tiền bị cáo T bán ma túy cho T3 mà có, cần truy thu của bị cáo T để sung quỹ nhà nước.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 22S1-315.13, xe không có gương bên phải, xe cũ đã qua sử dụng có nhiều vết trầy xước; 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu xanh, số IMEI1: 359471103026514/01, số IMEI2: 359472103026512/01, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0962.595.xxx và 0975035569, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê Văn T3. Là tài sản của bị cáo dùng làm phương tiện đi lại và sinh hoạt hàng ngày nên trả lại cho bị cáo Lê Văn T3, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI 1: 860379047725459, số IMEI 2: 860379047725442, bên trong lắp sim số 0399951064, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, số máy MKQ92LL/A, số seri F17QWB7GRXW bên trong lắp sim số 0866595663, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình T. Hội đồng xét xử xác định bị cáo có sử dụng trao đổi với T3 một lần, không thường xuyên dùng vào việc trao đổi mua bán ma túy và bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc hàng ngày nên không tịch thu mà trả lại cho bị cáo. Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI1: 354258110634314, số IMEI2: 354259110634312, thân máy có nhiều vết vỡ nứt, trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0332.056.xxx và 0568909555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số máy MNCE2J/A, số seri F17SM7KHHG7X bên trong không lắp sim điện thoại, máy cũ đã qua sử dụng, thu của bị cáo Nguyễn Ngọc N1 là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông theo T khai nhận là người bán ma tuý cho T tại khu vực bến xe khách thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra, xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình T, Nguyễn Ngọc N1Lê Văn T3 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

9

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 249; Điều 251; Điều 252; Điều 51; Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố:

  • + Bị cáo Nguyễn Đình T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • + Bị cáo Nguyễn Ngọc N1 phạm tội “Chiếm đoạt chất ma túy”.
  • + Bị cáo Lê Văn T3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt đối với các bị cáo:

- Căn cứ: điểm b, g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T3 01 (một) năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 252; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc N1 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (14/4/2024).

2. Về vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Đình T. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Đình T giám định ngày 15/4/2024";
  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia

10

niêm phong và Nguyễn Ngọc N1. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Ngọc N1 giám định ngày 15/4/2024";

  • + 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma tuý (còn lại sau giám định). Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng KTHS Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Lê Văn T3. Mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Lê Văn T3 giám định ngày 15/4/2024".

- Trả lại cho các bị cáo:

  • + Lê Văn T3: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, biển số 22S1-315.13, xe không có gương bên phải, xe cũ đã qua sử dụng có nhiều vết trầy xước; 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu xanh, số IMEI1: 359471103026514/01, số IMEI2: 359472103026512/01, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0962.595.xxx và 0975035569, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • + Nguyễn Đình T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số IMEI 1: 860379047725459, số IMEI 2: 860379047725442, bên trong lắp sim số 0399951064, máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu xám, số máy MKQ92LL/A, số seri F17QWB7GRXW bên trong lắp sim số 0866595663, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
  • + Nguyễn Ngọc N1: 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu SamSung, màu đen, số IMEI1: 354258110634314, số IMEI2: 354259110634312, thân máy có nhiều vết vỡ nứt, trầy xước, máy cũ đã qua sử dụng, bên trong lắp 02 sim điện thoại số 0332.056.xxx và 0568909555; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, số máy MNCE2J/A, số seri F17SM7KHHG7X bên trong không lắp sim điện thoại, máy cũ đã qua sử dụng, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Đình T 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) (tiền do phạm tội mà có) để sung quy nhà nước.

3. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo Nguyễn Đình T, Lê Văn T3, Nguyễn Ngọc N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

11

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Minh Hùng - Nguyễn Danh Long

Hoàng Thị Minh Khánh

12

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh TQ;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện SD;
  • - Sở tư pháp tỉnh TQ;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - CQ CSĐT Công an huyện SD;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - UBND xã Hương Sơn, huyện Bình Xuyên;
  • - UBND xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên;
  • - UBND xã Hợp Hòa, huyện SD;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

13

14

15

16

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L.V.T + ĐP phạm tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy; phạm tội chiếm đoạt chất ma túy (251 + 249 + 252)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger