Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 19/7/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Yến Nhi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trung

Ông Đặng Hoàng Tân

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 314/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/7/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Ngọc B, sinh năm 1984. (Có mặt).

Địa chỉ ĐKTT: Số A, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Địa chỉ cư trú: Ấp F, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Thị B1, sinh năm 1970. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  2. Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng T. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: Số C T, khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  3. Phan Thị V, sinh năm 1968. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: Số F T, phường A, quận T, Thành Phố Hồ Chí Minh.
  4. Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
    Địa chỉ: Số B, N, phường V, Quận C, Thành Phố Hồ Chí Minh.
    Đại điện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc
    Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phước L – Trưởng Phòng G. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc B trình bày:

Chị và anh T cưới nhau vào năm 2003 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A (B - Bến Tre) năm 2003. Sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do việc làm ăn của anh T bị thua lỗ dẫn đến vợ chồng lục đục, bất hòa, ngoài ra anh T không tôn trọng gia đình, đỉnh điểm là vào năm 2022 anh T nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác thì chị có giải thích nhưng anh T không tin rồi anh T có những hành động xúc phạm đến gia đình chị nên chị đã về nhà cha mẹ ở cho đến nay, trong thời gian này vợ chồng sống ly thân, nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn nên nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005, Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh năm 24/7/2010, cả 03 con chung đều đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, chị yêu cầu anh T có nghĩa cấp dưỡng nuôi 02 con chung là Thiên KMinh C1 mỗi cháu với số tiền là 1.000.000đ/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Hiện chị và anh T không có tài sản chung.

Về nợ chung: Chị và anh T có vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần S. Tính đến ngày 11/6/2024, chị và anh T còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 111.110.439 đồng. Chị B yêu cầu chia đôi khoản nợ phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Chị đồng ý trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S ½ số nợ mà Ngân hàng đã yêu cầu là 55.555.219 đồng, chị đã trả xong khoản nợ cho Ngân hàng vào ngày 11/6/2024. Trường hợp, anh T không thanh toán nợ vay còn lại cho Ngân hàng, thì chị đồng ý để Ngân hàng xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác mà bên bảo lãnh là ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị T2 đã ký để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số LD1823200222 ngày 20/08/2018 cho Ngân hàng TMCP S – chi nhánh B2 gồm thửa đất số 126 và thửa đất số 94, cùng tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Riêng các khoản nợ của bà Phan Thị V, bà Trần Thị B1, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Trọng Tín không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án nên chị B không có ý kiến.

Trong quá trình tố tụng vụ án bị đơn anh Nguyễn Duy T trình bày:

Anh thống nhất với trình bày của chị B về thời gian cưới nhau, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, tuy nhiên về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng mặc dù chuyện làm ăn của vợ chồng có bị thua lỗ nhưng không ảnh hưởng đến hạnh phúc của vợ chồng như chị B trình bày, mà nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là chị B không chung thủy với anh, chị B muốn làm gì thì làm, chỉ bàn bạc với gia đình của chị B mà không tôn trọng hay bàn bạc gì với anh dẫn đến tâm lý bực bội, anh có nói chuyện với mẹ ruột của anh để nhờ mẹ ruột của anh gặp mẹ ruột của chị B để nói chuyện hòa giải hàn gắn cho vợ chồng anh, tuy nhiên hòa giải không thành. Chị B đã tự ý về nhà cha mẹ ruột ở cách nay hơn 01 năm, vợ chồng anh đã ly thân từ đó đến nay, chị B đã chặn mọi liên lạc đối với anh. Nay anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, không có khả năng hàn gắn nên chị B yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005 (hiện đã trưởng thành), Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh năm 24/7/2010. Sau khi ly hôn, anh T đồng ý để chị B là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cháu K, cháu C1. Anh T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con, đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị B thì anh T không đồng ý vì trước đây chị B không yêu cầu cấp dưỡng, hai bên đã thỏa thuận nếu con sống với ai thì cha hoặc mẹ tự lo mọi chi phí cho con, bên còn lại không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hiện anh và chị B không có tài sản chung.

Về nợ chung: Anh và chị B có vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần S. Tính đến ngày 11/6/2024, anh và chị B còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 111.110.439 đồng. Anh đồng ý chia đôi trả khoản nợ phải trả cho Ngân hàng. Anh T đồng ý trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S ½ số nợ mà Ngân hàng đã yêu cầu là 55.555.219 đồng.

Trường hợp, anh và chị B không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng, anh T đồng ý để Ngân hàng xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác mà bên bảo lãnh là ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị T2 đã ký để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số LD1823200222 ngày 20/08/2018 cho Ngân hàng TMCP S – chi nhánh B2 gồm thửa đất số 126 và thửa đất số 94, cùng tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Riêng các khoản nợ của bà Phan Thị V, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Trọng Tín không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án nên anh T không có ý kiến. Đối với phần nợ của bà Trần Thị B1 nếu bà có yêu cầu giải quyết trong vụ án này, anh đồng ý trả cho bà B1 ½ số nợ 10 (mười) chỉ vàng 24K.

Tại đơn trình bày ý kiến và từ chối tham gia tố tụng trong vụ án đề ngày 27/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị V trình bày:

Bà có nhận được Thông báo thụ lý số 192/TB-TA ngày 13/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa anh Nguyễn Duy T3 và chị Dương Thị Ngọc B. Bà xác nhận bà không có bất kỳ yêu cầu gì trong vụ án nêu trên. Trường hợp nếu có phát sinh tranh chấp, bà sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác. Bà yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình xét xử vụ án nêu trên. Bà cam đoan không khiếu nại về việc Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà.

Tại biên bản làm việc ngày 11/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B1 trình bày:

Vào năm 2018, do vợ chồng TB cần vốn để làm ăn kinh doanh nên có hỏi mượn của bà số tài sản là 10 (mười) chỉ vàng 24K. Anh T có nói là mượn đỡ, một thời gian kinh doanh có lời anh T sẽ trả lại cho bà số vàng đã mượn. Tuy nhiên, do kinh doanh thua lỗ nên vợ chồng T, B đến nay vẫn chưa trả cho bà số vàng trên. Khi được Tòa án thông báo việc chị B đang khởi kiện xin ly hôn với anh T, bà có trao đổi với chị B và viết giấy “Xác nhận công nợ” ngày 29/10/2023 để gửi cho Tòa. Trong thông báo bà có viết “Số vàng 10 chỉ vàng trên ông T và bà B phải trả cho tôi trong vòng 6 tháng (từ đây đến 30/4/2024)...”. Đến nay đã quá thời hạn theo giấy “Xác nhận công nợ” nhưng chị B, anh T vẫn chưa trả số vàng trên. Tuy nhiên, do chỗ bà con nên bà cũng biết việc anh T, chị B có khó khăn về tài chính, vậy nên trong vụ án này, bà không yêu cầu độc lập đối với anh T, chị B. Trường hợp, sau này nếu có phát sinh tranh chấp thì bà sẽ khởi kiện anh T, chị B bằng vụ kiện khác. Bà cũng yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt bà, bà cam kết không có bất cứ khiếu nại gì về việc Tòa án giải quyết vắng mặt bà trong vụ án.

Tại biên bản làm việc ngày 16/01/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Trọng T4 trình bày:

Anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B còn nợ bà số tiền là 34.520.000 đồng. Hiện tại, anh T và chị B chưa trả số tiền còn nợ. Tuy nhiên, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2023, bản tự khai đề ngày 10/5/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày:

Ngày 20/08/2018 bên vay là anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B có ký hợp đồng vay với Ngân hàng TMCP S - CN Bến Tre - P, qua xác minh thực tế nhu cầu sử dụng vốn và tình hình kinh tế của khách hàng, Ngân hàng TMCP S – CN Bến Tre – P đã đồng ý cho anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số LD1823200222 ngày 20/08/2018. Số tiền vay: 320.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi triệu đồng); Mục đích sử dụng vốn: sữa chữa nhà; Lãi suất: 13%/năm; Thời gian vay: 10 năm; Ngày đáo hạn: 20/08/2028; Phương thức trả: mỗi tháng thanh toán vốn: 2.667.000 đồng, lãi theo dư nợ giảm dần. Trong quá trình thanh toán từ ngày 23/08/2018 đến ngày 19/08/2023 anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B vẫn thanh toán tốt cho ngân hàng với số vốn và lãi đã trả là: 348.583.097 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu năm trăm tám mươi ba nghìn không trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Vốn đã trả: 221.361.000 đồng; L1 đã trả: 127.222.097 đồng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 20/08/2023, anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện thanh toán khoản vay dẫn đến toàn bộ dư nợ bị quá hạn, dư nợ hiện tại tính đến ngày 29/11/2023 là 103.666.000 đồng (Trong đó: Vốn gốc: 98.639.000 đồng; Lãi trong hạn: 4.952.000 đồng; Lãi quá hạn: 75.000 đồng; Số ngày quá hạn: 101 ngày).

Tài sản đảm bảo cho khoản vay thuộc quyền sử dụng của bên bảo lãnh, cụ thể như sau:

Tài sản 01: Quyền sử dụng 1749,8m² đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH 00999 do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện B tỉnh Bến Tre cấp ngày 22/12/2015 cho bà Phan Thị T2 làm chủ sử dụng.

Tài sản 02: Quyền sử dụng 1577,4 m² đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH 00991 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2015 cho bà Phan Thị T2 làm chủ sử dụng.

Ngân hàng TMCP S có yêu cầu độc lập trong vụ, yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B có trách nhiệm liên đới trả một lần cho Ngân Hàng TMCP S (do Ngân hàng TMCP S – CN Bến Tre - PGD Giồng Trôm nhận thay) toàn bộ số tiền nợ gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng số LD1823200222 ngày 20/08/2018: 98.639.000 đồng; lãi trong hạn: 11.940.586 đồng, lãi quá hạn: 530.853 đồng. Vậy tổng khoản nợ khách hàng phải trả đến thời điểm 11/6/2024 là 111.110.439 đồng. Ngân hàng được tiếp tục tính lãi phát sinh trên vốn gốc còn lại của Hợp đồng tín dụng trên từ ngày 12/6/2024 đến khi anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B trả tất toán nợ cho ngân hàng.

Trường hợp anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng, kính đề nghị quý Tòa ra phán quyết cho xử lý toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của người khác mà bên bảo lãnh là ông Nguyễn Văn H và bà Phan Thị T2 đã ký để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của Hợp đồng tín dụng số LD1823200222 ngày 20/08/2018 cho Ngân hàng TMCP S – chi nhánh B2 cụ thể như sau:

Tài sản 01: Quyền sử dụng 1749,8m² đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH 00999 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2015 cho bà Phan Thị T2 làm chủ sử dụng.

Tài sản 02: Quyền sử dụng 1577,4 m² đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số GCN CH 00991 do UBND huyện B cấp ngày 22/12/2015 cho bà Phan Thị T2 làm chủ sử dụng.

Ngày 02/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S có đơn rút đơn khởi kiện đối với anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B. Lý do đã phối hợp với khách hàng thực hiện xong phương án xử lý nợ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục: Tòa án đã tiến hành thụ lý vụ án theo đúng quy định. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gồm: lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 204 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), lập biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định từ Điều 208 đến Điều 211 BLTTDS. Về các lài liệu, chứng cứ được thu thập đầy đủ làm cơ sở giải quyết đúng đắn vụ án. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 BLTTDS. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh tụng. Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về chuẩn bị khai mạc phiên tòa và các nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS.

- Về nội dung: Áp dụng các Điều 227, 228, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Ngọc B được ly hôn với anh Nguyễn Duy T.

+ Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh năm 24/7/2010 cho chị Dương Thị Ngọc B trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Nguyễn Duy T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho mỗi cháu. Riêng con chung tên Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005 (hiện đã trưởng thành), nên không xem xét giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về nợ chung: Ghi nhận người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị V, bà Trần Thị B1, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP S.

+ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con: Đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Duy T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị V, bà Trần Thị B1, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng T có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Dương Thị Ngọc B và anh Nguyễn Duy T cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/3/2003. Do đó, hôn nhân của chị B và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, chị B cho rằng hôn nhân của chị và anh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do việc làm ăn của anh T bị thua lỗ dẫn đến vợ chồng lục đục, bất hòa, ngoài ra anh T không tôn trọng gia đình, đỉnh điểm là vào năm 2022 anh T nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác thì chị có giải thích nhưng anh T không tin rồi anh T có những hành động xúc phạm đến gia đình chị nên chị đã về nhà cha mẹ ở cho đến nay, trong thời gian này vợ chồng sống ly thân. Anh T cho rằng nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là chị B không chung thủy với anh, chị B muốn làm gì thì làm, chỉ bàn bạc với gia đình của chị B mà không tôn trọng hay bàn bạc gì với anh dẫn đến tâm lý bực bội, anh có nói chuyện với mẹ ruột của anh để nhờ mẹ ruột của anh gặp mẹ ruột của chị B để nói chuyện hòa giải hàn gắn cho vợ chồng anh, tuy nhiên hòa giải không thành. Cả chị B và anh T đều thừa nhận vợ chồng anh chị đã xảy ra mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng không còn tình cảm và không hàn gắn được với nhau. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị B và anh T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị B yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị B và anh T có ba con chung là Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005 (hiện đã trưởng thành), Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010. Hiện các con chung đang do chị B nuôi dưỡng nên chị B yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung. Anh T cũng đồng ý để con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 cho chị B tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T là người không trực tiếp nuôi con nên anh phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật với mức cấp dưỡng hàng tháng là 1.000.000 đồng cho đến khi cháu K, cháu C1 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung của anh T bắt đầu tính từ ngày 19/7/2024. Anh Nguyễn Duy T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

[3] Về tài sản chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Về nợ chung: Ghi nhận những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị V, bà Trần Thị B1, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S do Ngân hàng đã có đơn rút đơn khởi kiện đề ngày 02/7/2024. Lý do rút đơn khởi kiện: đã phối hợp với khách hàng thực hiện xong phương án xử lý nợ.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Dương Thị Ngọc B phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Duy T có nghĩa vụ nộp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.592.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Ngọc B ly hôn với anh Nguyễn Duy T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 20/3/2003 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Chị Dương Thị Ngọc B có quyền trực tiếp nuôi các con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 (Phù hợp với nguyện vọng của cháu K, cháu C1), con chung Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
    Anh Nguyễn Duy T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng)/cháu cho đến khi cháu K, cháu C1 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung của anh T bắt đầu tính từ ngày 19/7/2024.
  3. Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
  4. Tài sản chung: Không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về nợ chung: Ghi nhận bà Phan Thị V, bà Trần Thị B1, bà Phan Huỳnh Diễm T1 – Chủ cửa hàng vật xây dựng T không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
    Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với anh Nguyễn Duy T và chị Dương Thị Ngọc B.
  6. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) chị Dương Thị Ngọc B phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006443 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị B đã nộp xong. Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Duy T có nghĩa vụ nộp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 2.592.000₫ (Hai triệu năm trăm chín mươi hai nghìn đồng). Theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000111 ngày 30/11/2023 Của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Nguyên đơn chị Dương Thị Ngọc B có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Duy T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Hồ Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HNGĐ - ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 87/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng các Điều 227, 228, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. 1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Dương Thị Ngọc B ly hôn với anh Nguyễn Duy T. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 20/3/2003 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. 2. Về con chung: Chị Dương Thị Ngọc B có quyền trực tiếp nuôi các con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 (Phù hợp với nguyện vọng của cháu K, cháu C1), con chung Nguyễn Dương Chí C, sinh ngày 07/10/2005 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Anh Nguyễn Duy T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 30/7/2008 và Nguyễn Ngọc Minh C1, sinh ngày 24/7/2010 mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng)/cháu cho đến khi cháu K, cháu C1 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung của anh T bắt đầu tính từ ngày 19/7/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger