|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 18.9.2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Xuân Thi. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Bé Em |
| Ông Lê Anh Giàu | |
| Thư ký phiên tòa: | Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: | Bà Trần Thị Ấm - Kiểm sát viên. |
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1983. Địa chỉ: B ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- - Bị đơn: Bà Hồ Thị Huyền T, sinh năm: 1989. Địa chỉ: B ấp C, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Thanh H trình bày:
Ông và bà T tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc. Thời gian gần đây (đầu năm 2023) thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình vợ chồng đối lập, không thể nói chuyện với nhau nên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tuy ở chung nhà nhưng không ai nói chuyện với ai. Hiện tại ông đã ra ngoài sống (khoảng hơn một tháng nay), rất ít khi về nhà, khoảng một tuần có về chơi với các con nhưng không gần gũi hay trò chuyện với vợ.
Nay tình cảm vợ chồng giữa ông và bà T không còn nên ông yêu cầu ly hôn.
Về con chung: có hai con chung là Trần Đăng K, sinh ngày 15/8/2017 và Trần Tuấn K1, sinh ngày 05/12/2018. Ông đồng ý để bà T trực tiếp nuôi con và ông cấp dưỡng cho mỗi con chung 2.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: không có
- Về nợ chung: không có.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn bà Hồ Thị Huyền T trình bày:
Bà thống nhất với lời trình bày của ông H về thời gian kết hôn và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn, cuộc sống của vợ chồng hạnh phúc. Cho đến thời điểm hiện tại, giữa vợ chồng không phát sinh bất kỳ mâu thuẫn gì. Bà cũng không hiểu lý do gì khiến ông H nộp đơn yêu cầu ly hôn. Khoảng 1 tháng gần đây, ông H ít khi về nhà, ông H có nói do ông bị áp lực nên bà cũng không ép ông H.
Tình cảm vợ chồng giữa bà và ông H rất bình thường, hiện tại các con của ông bà còn nhỏ, bà muốn vợ chồng cùng nhau chăm lo cho con nên bà không đồng ý ly hôn.
Về con chung: có hai con chung là Trần Đăng K, sinh ngày 15/8/2017 và Trần Tuấn K1, sinh ngày 05/12/2018. Hiện tại cả hai con chung đang sống với bà, nếu trường hợp tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H thì bà yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và đồng ý với mức cấp dưỡng cho mỗi con chung mà ông H đưa ra là 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung: không có
Về nợ chung: không có.
Do bà bận công việc nên không thể có mặt trong những lần tòa án triệu tập để hòa giải, làm việc hoặc xét xử. Bà đề nghị tòa án căn cứ vào lời trình bày trên đây của bà để giải quyết vắng mặt bà trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà cam kết không khiếu nại về sau.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81 đến 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định liên quan đến án phí, lệ phí:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn;
- - Về con chung: Giao 02 con chung Trần Đăng K, sinh ngày 15/8/2017 và Trần Tuấn K1, sinh ngày 05/12/2018 cho bà T nuôi dưỡng; ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/01 con chung.
- - Về tài sản chung: đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và kết quả nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Thanh H khởi kiện bà Hồ Thị Huyền T yêu cầu ly hôn nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Hồ Thị Huyền T là bị đơn trong vụ án, có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng:
Bà Hồ Thị Huyền T có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà T đăng ký kết hôn lần đầu vào năm 2014, đến năm 2018 thì ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 89/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre. Đến ngày 04/12/2018, ông bà tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Ông H cho rằng, việc ông bà thuận tình ly hôn ngày 20/4/2018 nhưng sau đó ông bà đăng ký kết hôn lại vào ngày 04/12/2018 là do sau khi ly hôn thì phát hiện bà T mang thai nên ông bà thỏa thuận đăng ký kết hôn lại để làm giấy khai sinh cho con và để chăm sóc con nhỏ, theo ông thì mâu thuẫn giữa ông và bà T đã phát sinh từ trước đó, vợ chồng không thể hòa hợp vì những bất đồng quan điểm trong đời sống vợ chồng. Thời gian gần đây ông đã dọn ra nhà trọ để sống, tình cảm của ông đối với bà T không còn nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù bà T không thừa nhận những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng giữa bà và ông H nhưng bà cũng thừa nhận khoảng 01 tháng gần đây, ông H đã dọn ra ngoài sống, do đó những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng là có. Căn cứ hồ sơ thể hiện, ông bà đã từng ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của đương sự số 89/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre nên lời trình bày của ông H về việc những mâu thuẫn của ông bà đã phát sinh từ trước đó và việc ông bà đăng ký kết hôn lại chỉ vì muốn chăm sóc con nhỏ là có thật.
Điều này cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.
[3.2] Về con chung: ông bà có 02 con chung, ông bà thống nhất nội dung: Giao 02 con chung Trần Đăng K, sinh ngày 15/8/2017 và Trần Tuấn K1, sinh ngày 05/12/2018 cho bà T nuôi dưỡng; ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/01 con chung. Do ông H và bà T đã thỏa thuận được nên Hội đồng xét xử ghi nhận để các bên thực hiện.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: ông H và bà T đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3.4] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Thanh H, cụ thể tuyên:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Thanh H được ly hôn với bà Hồ Thị Huyền T.
-
Về con chung: Giao 02 con chung Trần Đăng K, sinh ngày 15/8/2017 và Trần Tuấn K1, sinh ngày 05/12/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng/01 con chung. Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung tròn 18 (mười tám) tuổi.
Ông Trần Thanh H được quyền đến thăm chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì quyền và lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Trần Thanh H và bà Hồ Thị Huyền T đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Trần Thanh H và bà Hồ Thị Huyền T đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Ông Trần Thanh H phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002725 ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Ông Trần Thanh H phải tiếp tục nộp án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Xuân Thi |
Bản án số 87/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre về ly hôn
- Số bản án: 87/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp ly hôn giữa ông Trần Thanh H và bà Hồ Thị Huyền T, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
