|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày 18/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thu Ánh
- Bà Quách Thị Bích Ngà
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Võ Hồ T; sinh ngày 02/8/1999, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: A Bà L, Phường H, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ (chết) và bà Hồ Ngọc T1; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 12/6/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 2002; địa chỉ: E khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Bá T2, sinh năm 1977; địa chỉ: B B, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 7 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, đối tượng Võ Hồ T đi đến cửa hàng T5 ở địa chỉ G Phú Thọ, Phường A, Quận A để đi vệ sinh. Khi đối tượng Thanh lên lầu 1 đi đến phòng vệ sinh gõ cửa thì ông Nguyễn Hoàng K đang ở bên trong nhưng không trả lời nên đối tượng T3 ra ngoài ngồi chờ. Lúc này, đối tượng T3 nhìn thấy 01 ba lô màu đen của ông Nguyễn Hoàng K để ở ghế gần hành lang đi bộ, ba lô không khóa. Đối tượng Thanh nhìn vào trong ba lô phát hiện máy laptop nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. Đối tượng Thanh liền lén lút lấy từ trong ba lô của ông K 01 túi đựng laptop, bên trong túi có 01 máy lap top hiệu MSI 5800 màu đen. Sau khi chiếm đoạt tài sản, đối tượng Thanh giấu túi đựng laptop cùng máy laptop vào bên trong áo trước ngực của mình và nhanh chóng rời khỏi cửa hàng. Đối tượng Võ Hồ T đi bộ vào các hẻm nhỏ thuộc địa bàn Phường A, Quận A hướng về cầu ông B, Quận F. Khi đến quán cà phê gần cầu ông B, đối tượng Thanh vào trong quán nhờ một người (không rõ lai lịch) đặt giúp 01 chuyến xe công nghệ chở đối tượng Thanh đến đường B, Quận F để cầm cố máy laptop vừa chiếm đoạt được tại tiệm C ở địa chỉ B B, Phường A, Quận F. Đối tượng Thanh vào gặp ông Phạm Bá T2 (sinh năm: 1977, là chủ tiệm để cầm đồ). Ông T2 chấp nhận cầm máy laptop trên với số tiền 4.000.000 đồng. Đối tượng Võ Hồ T đề nghị ông Phạm Bá T2 chuyển tiền vào tài khoản của đối tượng Thanh có số: CAKE 0798529179, mở tại Ngân hàng V (V1). Khi cầm cố tài sản, đối tượng Thanh không nói cho ông T2 biết tài sản trên do đối tượng Thanh trộm cắp mà có. Sau khi cầm cố tài sản được 4.000.000 đồng, đối tượng T3 đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Sau khi bị chiếm đoạt tài sản, ông Nguyễn Hoàng K đến trụ sở Công an P1, Quận A trình báo việc bị mất trộm laptop. Nhận được tin báo, Công an P1, Quận A tiến hành tiếp nhận thụ lý và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.
Tiến hành điều tra, truy xét đến ngày 06/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành bắt khẩn cấp đối với đối tượng Võ Hồ T tại tiệm C. Đồng thời thu giữ được vật chứng vụ án là máy laptop hiệu MSI Baravo 15 RYZEN 7 5800H do ông Phạm Bá T2 giao nộp.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Võ Hồ T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiến hành trưng cầu định giá tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 máy laptop hiệu MSI Baravo 15 RYZEN 7 5800H, màu đen (đã qua sử dụng) có giá trị 9.075.000 đồng; 01 túi chống sốc hiệu Gearvn màu đen (đã qua sử dụng) có giá 35.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.110.000 đồng. Thời điểm định giá ngày 05/6/2024.
Vật chứng vụ án gồm có:
- Một túi đựng máy laptop hiệu Gearvn màu đen có dây khóa màu đỏ; một máy laptop hiệu MSI Baravo 15 RYZEN 7 5800H, màu đen. Đây là tài sản do bị can T chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàng K1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Hoàng K.
- Một áo khoác tay dài màu trắng; một quần Jeans lửng màu xanh nhạt. Đây là trang phục bị can T mặc trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội.
- Một giấy biên nhận cầm đồ số 2413 của T4 cầm đồ Trọng Phát, thu giữ trong người của T.
- Một giấy biên nhận cầm đồ Trọng Phát có nội dung cầm Laptop MSI 5800 không sạc với số tiền 4.000.000 đồng.
- Một USB màu đen dung lượng 16Gb chứa dữ liệu hình ảnh bị can Võ Hồ T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở cửa hàng M (lưu hồ sơ vụ án).
- Một đĩa CD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị can Võ Hồ T (lưu hồ sơ vụ án).
Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q còn thu giữ:
- Một máy laptop hiệu Dell, màu đen. Đây là tài sản cá nhân của bị can Võ Hồ T.
- Một điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng, số thuê bao: 0798529179. Đây là tài sản cá nhân của bị can Võ Hồ T.
Về dân sự: Ông Nguyễn Hoàng K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Ông Phạm Bá T2 (chủ tiệm C) không yêu cầu bị can T phải bồi thường số tiền 4.000.000 cho ông T2.
Tại Bản cáo trạng số 86/CT-VKSQ11 ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Võ Hồ T tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hồ T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là ông Nguyễn Hoàng K vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Bá T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra. Ông Phạm Bá T2 không có đơn yêu cầu bị can T phải bồi thường số tiền 4.000.000 cho ông T2.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu tiêu hủy một áo khoác tay dài màu trắng; một quần Jeans lửng màu xanh nhạt.
- Lưu vào hồ sơ vụ án một giấy biên nhận cầm đồ Trọng Phát có nội dung cầm Laptop MSI 5800 không sạc với số tiền 4.000.000 đồng và một giấy biên nhận cầm đồ số 2413 của T4 cầm đồ Trọng Phát.
- Lưu vào hồ sơ vụ án một USB màu đen dung lượng 16Gb chứa dữ liệu hình ảnh bị cáo Võ Hồ T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở cửa hàng M và một đĩa CD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Võ Hồ T.
- Trả lại cho bị cáo Võ Hồ T một máy laptop hiệu Dell, màu đen và một điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng, số thuê bao: 0798529179.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, tại địa chỉ số G Phú Thọ, Phường A, Quận A, bị cáo Võ Hồ T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một túi đựng máy laptop hiệu Gearvn màu đen có dây khóa màu đỏ bên trong có một máy laptop hiệu MSI Baravo 15 RYZEN 7 5800H, màu đen, có giá trị là 9.110.000 đồng của ông Nguyễn Hoàng K.
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về việc xem xét phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Bị cáo Võ Hồ T không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không đảm bảo khả năng chấp hành án khoản nộp phạt tiền; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là một túi đựng máy laptop hiệu Gearvn màu đen có dây khóa màu đỏ; một máy laptop hiệu MSI Baravo 15 RYZEN 7 5800H, màu đen. Đây là tài sản do bị cáo T chiếm đoạt của ông Nguyễn Hoàng K1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra quyết định trả lại tài sản cho bị hại Nguyễn Hoàng K. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- Đối với vật chứng là một áo khoác tay dài màu trắng; một quần Jeans lửng màu xanh nhạt. Đây là trang phục bị cáo T mặc trên người lúc thực hiện hành vi phạm tội. Vật chứng không còn giá trị sử dụng. Bị cáo T không đồng ý nhận lại vật chứng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một giấy biên nhận cầm đồ số 2413 của tiệm cầm đồ Trọng Phát, thu giữ trong người của T, đây là liên biên nhận do tiệm cầm đồ Trọng P giao cho bị cáo T, là chứng cứ chứng minh tội phạm. Hội đồng xét xử giải quyết lưu vào hồ sơ vụ án.
- Đối với vật chứng là một giấy biên nhận cầm đồ Trọng Phát có nội dung cầm Laptop MSI 5800 không sạc với số tiền 4.000.000 đồng, đây là liên biên nhận do ông Phạm Bá T2 thuộc tiệm cầm đồ Trọng Phát giao nộp, là chứng cứ chứng minh tội phạm. Hội đồng xét xử giải quyết lưu vào hồ sơ vụ án.
- Đối với vật chứng là một USB màu đen dung lượng 16Gb chứa dữ liệu hình ảnh bị cáo Võ Hồ T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở cửa hàng M do cửa hàng M giao nộp và do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập biên bản tiếp nhận và lưu vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công Khoa Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là một đĩa CD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Võ Hồ T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập và lưu vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công Khoa Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với vật chứng là một máy laptop hiệu Dell, màu đen và một điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo Võ Hồ T, không liên quan đến vụ án. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo T.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là ông Nguyễn Hoàng K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Bá T2 (chủ tiệm cầm đồ T) không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 4.000.000 cho ông T2. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án.
[5] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Võ Hồ T, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Võ Hồ T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Hồ T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 06/6/2024.
Căn cứ Điều 106; Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy vật chứng là một áo khoác tay dài màu trắng và một quần Jeans lửng màu xanh nhạt (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 815/LNK-ĐTTH ngày 12/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Trả lại cho bị cáo Võ Hồ T vật chứng là một máy laptop hiệu Dell, màu đen và một điện thoại di động hiệu Vivo màu vàng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 815/LNK-ĐTTH ngày 12/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Lưu vào hồ sơ vụ án hai giấy biên nhận cầm đồ của tiệm C; một USB màu đen dung lượng 16Gb chứa dữ liệu hình ảnh bị cáo Võ Hồ T thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản ở cửa hàng M và một đĩa CD ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Võ Hồ T.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
7
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
