|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI Bản án số: 87/2023/HS-ST Ngày 17 – 11 - 2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Trần Thị Thu Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng.
ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Trang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 năm 11 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Công T - Sinh năm 1985 tại: Xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Công T1 và bà Nguyễn Thị T2; vợ, con: Chưa có; TATS: Theo danh chỉ bản số 286 ngày 24/8/2023 và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến nay. Có mặt.
2. Lê Ngọc M - Sinh năm 1986 tại: Xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: thôn L, xã B, huyện M, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Lê Ngọc D và bà Nguyễn Thị L; vợ: Nguyễn Thị N; con: có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2022. TATS: Theo danh chỉ bản số 285 ngày 24/8/2023 và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo không tiền sự. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: tổ dân phố C, M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 02/8/2023 tại khu vực trước cổng nhà thờ thôn P, xã B, huyện M, TP Hà Nội. Tổ tuần tra Công an xã B bắt quả tang Nguyễn Công T, sinh năm: 1985, trú tại: thôn L, xã B, huyện M, TP . đang cầm 01 túi nilon màu xanh kích thước khoảng 7x11cm, bên trong có 01 gói nhỏ bọc giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng. T khai nhận là ma túy loại heroin mua về để sử dụng. Ngoài ra, Công an thu giữ của T: 01 điện thoại di dộng màu xanh, nhãn hiệu Mastel, bên trong có gắn sim: 0878.490.684 và 01 xe máy Honda Wave màu đen, Biển kiểm soát: 30X7-3835.
Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 07h ngày 02/8/2023, Nguyễn Công T đang ăn sáng tại quán C, địa chỉ ở thôn L, xã B thì gặp Lê Ngọc M, sinh năm: 1986, trú tại: thôn L, xã B, huyện M, TP . đến ăn sáng cùng. T rủ M góp tiền để cùng mua ma túy sử dụng chung nhưng M nói không có tiền và do trời mưa nên sau khi ăn sáng xong T và M đi về nhà. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T dùng số điện thoại 0878.490.xxx của mình gọi đến số 0969.342.520 (lưu trong điện thoại là "N") hỏi mùa 200.000 đồng mà tùy loại heroin. “Nam Anh" đồng ý và hẹn T đến nhà thờ thôn P, xã B, huyện M để giao nhận ma túy. Sau đó, T tiếp tục gọi điện thoại đến số 0911.280.xxx của M, rủ M góp 150.000 đồng. Thực góp 50.000 đồng mua ma túy cùng sử dụng. M đồng ý và điều khiển xe máy 30X7 – 3835 đến nhà đón T, M đưa cho T 150.000 đồng để mua ma túy. T cầm tiền và điều khiển xe máy biển kiểm sát 30X7-3835 chở M đến điểm hẹn để mua ma túy. Khi đi đến khu vực đê thôn P, xã B thì T nói M xuống xe đứng đợi còn T đi xe máy đến khu vực nhà thờ thôn P, xã B để gặp "N”. T đưa cho “Nam Anh" 200.000 đồng và nhận lại 01 túi nilon màu xanh bên trong có 01 gói nhỏ bọc giấy bên trong chứa chất bột màu trắng là heroin, T đang cầm ma túy tại tay trái thì bị Công an bắt quả tang.
Do thấy T đi mua ma túy lâu không quay lại nên M đã đi bộ về nhà. Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Ngọc M và thu giữ 01 chiếc diện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, bên trong gắn sim: 0911 280.886.
Ngày 02/8/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 138/QĐ-CSĐT trưng cầu giám định đối với chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu xanh thu giữ của T có phải là ma túy không? Loại gì? Khối lượng?
Tại Kết luận giám định số 5259/KL-KTHS ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Phòng K - Công an T5 kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy (để trong 01 túi nilông màu xanh) là ma túy loại heroin có khối lượng 0,239 gam.
Ngày 10/8/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra Lệnh thu giữ điện tin số 30/LTG-CSĐT gửi Công ty Cổ phần V, số 31/LTG-CSĐT gửi Tổng công ty hạ tầng mạng, số 32/LTG-CSĐT gửi Tập đoàn C1 để thu giữ bảng kê chi tiết các cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn từ 7 giờ 00 phút ngày 25/7/2023 đến 15 giờ 00 phút ngày 02/8/2023 và thông tin chủ thuê bao các số 0878.490.684, số 0911.280.886 và số 0969.342.520.
Tại công văn số 1141/2023/CV-I-Telecom ngày 24/8/2023 của Công ty cổ phần V thể hiện: Chủ số thuê bao 0878.490.684 là Nguyễn Thị T3, sinh ngày: 9/10/1981, trú tại: phường P, thị xã H, TP . Cùng ngày 02/8/2023, số thuê bao 0878.490.684 gọi đến số thuê bao 0911.280.886 (09 lần). Gọi đến số thuê bao 0969.342.520 (01 lần), phủ hợp với lời khai của Nguyễn Công T về thời gian mua ma túy.
Tại Công văn số 1471/KTM-ANM ngày 29/8/2023 của Tổng công ty H mạng thể hiện: Chủ số thuê bao 0911.280.886 của Lê Ngọc M. Cùng ngày 02/8/2023, Số thuê bao 0911.280.886 gọi đến số 0878.490.684 (07 lần), phù hợp với lời khai của Lê Ngọc M về thời gian liên lạc T rủ M góp tiền mua ma túy.
Tại Công văn số 7250/CNVIQĐ-TTKT ngày 14/9/2023 của Tập đoàn C1 thể hiện: Chu số thuê bao 0969.342.520 của Nguyễn Văn D1, sinh ngày: 17/10/2020, địa chỉ: xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Cùng ngày 02/8/2023 số thuê bao 0969.342.520 gọi đến số 0878.490.684 (06 lần), phù hợp với thời gian T liên lạc mua ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T4 và Lê Ngọc M đều thừa nhận cùng nhau mua ma tuý về sử dụng chung như kết quả điều tra đã nêu. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản phạm pháp quả tang và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Văn T4 và Lê Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi theo đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức đã truy tố.
Cáo trạng số 79/CT-VKS-MĐ ngày 23/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Công T và Lê
Ngọc M đã đủ yếu tố cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 đối với bị cáo Nguyễn Công T.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 đối với bị cáo Lê Ngọc M.
Xử phạt:
- Nguyễn Công Thực từ 15 đến 18 tháng tù.
- Lê Ngọc M từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với cả hai bị cáo do không có điều kiện thi hành án.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Công T và giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ Công an huyện M;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Mastel, bên trong có gắn sim: 0878.490.684 thu giữ của Nguyễn Công T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, bên trong có gắn sim: 0911.280.886 thu giữ của Lê Ngọc M.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên huyện M trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của của bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, ngày 02/8/2023 Nguyễn Công T và Lê Ngọc M cùng nhau góp tiền mua 0,239g Heroin về để cùng sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T cầm bên tay trái của mình thì bị bắt quả tang. Bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M bị truy tố về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo đều trong độ tuổi lao động nhưng không chịu làm ăn, tu dưỡng lao vào con đường nghiện ma túy. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M đều không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân không tiền án, tiền sự nên bị cáo T và M được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Ngọc M có bác ruột là liệt sỹ, hiện gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử thấy cần giảm nhẹ một phần hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.
Về tính chất, vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn: Các bị cáo tự rủ nhau cùng góp tiền để mua ma túy, bị cáo T góp tiền 50.000đ, M góp 150.000đ, bị cáo T là người cầm tiền mua ma túy để cùng sử dụng. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhau trong
quá trình thực hiện hành vi phạm tội. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy: Bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo M; gọi điện và trực tiếp giao dịch mua bán ma túy, dùng xe máy chở M đi mua ma túy nên là người thực hiện hành vi phạm tội tích cực nhất; bị cáo M góp tiền và đưa xe cho T đi mua ma túy nên có vai trò thấp hơn. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt đối với T cao hơn M và cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người tốt cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, không có khả năng thi hành án nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Cho tịch thu, tiêu hủy:
+ 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Công T giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ Công an huyện M.
- Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel, bên trong có gắn sim: 0878.490.684 thu giữ của Nguyễn Công T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, bên trong có gắn sim: 0911.280.886 thu giữ của Lê Ngọc M. Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với chiếc xe máy Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát: 30X7-3835: Cơ quan điều tra xác minh, xác định xe đăng ký tên chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1987, trú tại: Tổ dân phố C, M, phường M, quận N, TP . (là vợ Lê Ngọc M). Ngày 02/8/2023, M sử dụng chiếc xe trên cùng Nguyễn Công T đi mua ma túy nhưng chị N không biết việc M và T sử dụng xe để đi mua ma túy. Tra cứu chiếc xe trên không nằm trong dữ liệu xe máy vật chứng nên ngày 13/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị N là có căn cứ.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Công Thực t khu vực nhà thờ thôn P, xã B, do Nguyễn Công T không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác minh, làm rõ.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 đối với bị cáo Nguyễn Công T.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 đối với bị cáo Lê Ngọc M.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công T và Lê Ngọc M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt:
- Nguyễn Công T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 02/8/2023.
- L1 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày: 02/8/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín bên trong có chứa ma túy thu giữ của các bị cáo có chữ ký họ tên của đối tượng Nguyễn Công T, giám định viên niêm phong và chữ ký của cán bộ Công an huyện M.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel, bên trong có gắn sim: 0878.490.684 thu giữ của Nguyễn Công T và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, bên trong có gắn sim: 0911.280.886 thu giữ của Lê Ngọc M.
(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/10/2023).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4 . Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hường |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 87/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 87/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA TÀNG TRỮ MA TÚY
