|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Đăng D, sinh năm 1992 tại Nam Định; căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định nơi cư trú: Số A đường Y, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Ngọc B và bà Lại Thị M; vợ: Trần Thị Hồng N; và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21-12-2011, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 30-8-2014, Công an thành phố N xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh nhau; ngày 10-3-2015, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 23-12-2016, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị can bị tạm giữ từ ngày 18-01-2024 đến ngày 26-01-2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Đỗ Thu T năm 1984; nơi cư trú: số A đường T, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định(xin xét xử vắng mặt).
+ Chị Bùi Thị H năm 1967; nơi cư trú: số C ô A phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định(xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở tố giác của quần chúng nhân dân về việc đối tượng Trần Đăng D hành vi cho vay lãi nặng trên địa bàn thành phố N 18-01-2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố N triệu tập Trần Đăng D làm việc. Tại cơ quan điều tra, D đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Do không có việc làm ổn định, D sinh ý định cho khách vay tiền với lãi suất cao để hưởng lợi bất chính dưới hình thức giả tạo hợp đồng mua bán điện thoại trả góp, với số tiền cho vay từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, lãi suất 6.000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày, tương đương 216%/ 1 năm. Trong khi, mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 20%/1 năm. Trần Đăng D người vay thỏa thuận 10 ngày đóng lãi 1 lần bằng hình thức chuyển khoản hoặc trả tiền mặt, khi vay người vay phải đưa cho D tờ tùy thân để tín chấp. Từ tháng 10 năm 2022 đến tháng 01 năm 2024 D đã cho 02 người vay tiền. Cụ thể như sau:
Trường hợp thứ nhất:
Ngày 25-12-2022, bà Bùi Thị H năm 1967, trú tại số C, phường H, thành phố N nhà Trần Đăng D 10.000.000 đồng, với lãi suất 6.000 đồng/01 triệu/01 ngày, 10 ngày đóng lãi 1 lần. D yêu cầu bà Bùi Thị H 01 giấy vay tiền dưới dạng “Hợp đồng mua bán điện thoại trả góp” từ ngày 25-12-2022 và để lại 01 chứng minh nhân dân số [...], 01 giấy phép lái xe số [...] cùng mang tên Bùi Thị H tất thủ tục, D cho bà H tiền 9.400.000 đồng, D tự cắt lãi 600.000 đồng của kỳ hạn đầu tiên. Từ ngày 25-12-2022 đến ngày 18-01-2024, tương ứng với 390 ngày, bà H đóng lãi vay cho D chu kỳ 10 ngày, trả lãi 1 lần với tổng số tiền là 6000 đồng/01 triệu/01 ngày x 10.000.000 đồng x 390 = 23.400.000 đồng. Trong khi, số tiền lãi tối đa được pháp luật cho phép là 20%/năm, với khoản vay 10.000.000 đồng thì D được phép thu số tiền lãi là: 20% x 10.000.000 đồng/365 ngày x 390 ngày = 2.136.986 đồng.
Như vậy, số tiền lãi D thu lợi bất chính từ việc cho bà H lãi là: 23.400.000 đồng - 2.136.986 đồng = 21.263.014 đồng.
Trường hợp thứ hai:
Lần 1: Ngày 15-10-2022, chị Đỗ Thu T năm 1984, trú tại A đường T, phường H, thành phố N nhà Trần Đăng D 10.000.000 đồng theo mức lãi suất và cách thức trả lãi như trên. D yêu cầu chị T giấy vay tiền dưới dạng “Hợp đồng mua bán điện thoại trả góp” từ ngày 15-10-2022 và để lại bản gốc bộ hồ sơ sát hạch để cấp giấy phép lái xe mang tên Đỗ Thu T Sau khi hoàn tất thủ tục, D cho chị T đồng, D tự cắt lãi kỳ đầu tiên là 600.000 đồng. Từ ngày 15-10-2022 đến ngày 13-11-2022, chị T đóng lãi vay cho D chu kỳ 10 ngày trả lãi 1 lần, mỗi lần 600.000 đồng. D đã thu của T tiền lãi của 30 ngày tương ứng với tổng số tiền là: 6.000 đồng/01 triệu/01 ngày x 10.000.000 đồng x 30 ngày = 1.800.000 đồng. Trong khi, theo quy định thì D được phép thu số tiền lãi tối đa là 20% x 10.000.000 đồng/365 ngày x 30 ngày = 164.384 đồng.
Như vậy số tiền lãi D thu lợi bất chính từ việc cho chị T lần thứ nhất là 1.800.000 đồng - 164.384 đồng = 1.635.616 đồng.
Lần 2: Ngày 13-11-2022, chị T vấn đề vay thêm của D 5.000.000 đồng cũng với lãi suất 6.000 đồng/ 1 triệu/ngày. Sau khi thoả thuận, D chị T nhất viết thêm 01 giấy vay tiền dưới dạng “Hợp đồng mua bán điện thoại trả góp” từ ngày 13-11-2022. Do chị T còn nợ D 10.000.000 đồng nên D và chị T nhất sẽ cộng 2 khoản vay lại thành khoản vay 15.000.000 đồng, lãi suất 6.000 đồng/triệu/ngày, bắt đầu tính lãi từ ngày 13-11-2022 và 10 ngày đóng lãi 1 lần. Từ ngày 13-11-2022 đến ngày 06-01-2024 (từ ngày 07-01-2024 D không tính lãi), tương ứng với 420 ngày, chị T lãi cho D 10 ngày 1 lần với tổng số tiền là: 6000 đồng/01 triệu/01 ngày x 15.000.000 đồng x 420 ngày = 37.800.000 đồng. Trong khi, theo quy định thì D được phép thu số tiền lãi tối đa là 20% x 15.000.000 đồng/365 ngày x 420 ngày = 3.452.055 đồng.
Số tiền lãi D thu lợi bất chính từ việc cho chị T lần thứ hai là 37.800.000 đồng - 3.452.055 đồng = 34.347.945 đồng.
Tổng số tiền lãi D thu lợi bất chính từ việc cho chị T là 1.635.616 đồng + 34.347.945 đồng = 35.983.561 đồng.
Tổng số tiền D lợi bất chính từ việc cho chị Đỗ Thu T bà Bùi Thị H lãi là 57.246.575 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Công an Thành phố N Bùi Thị H chị Đỗ Thu T báo phù hợp với các tài liệu, chứng cư cơ quan điều tra thu thập được.
- Vật chứng thu giữ trong vụ án:
Trần Đăng D giao nộp toàn bộ hợp đồng cho vay giữa D với chị T chị H các giấy tờ liên quan mà chị T chị H cho D tín chấp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 và 01 sim điện thoại số 0945.903.xxx là phương tiện D sử dụng trao đổi liên quan đến việc cho vay tiền cùng toàn bộ tin nhắn liên quan.
- Về trách nhiệm dân sự:
Chị Bùi Thị H cầu Trần Đăng D trả lại số tiền chiếm hưởng trái phép của chị là 21.263.014 đồng
Chị Đỗ Thu T yêu cầu Trần Đăng D trả lại số tiền chiếm hưởng trái phép của chị là 35.983.561 đồng
Đối với số tiền gốc 25.000.000 đồng mà chị H T đã vay của D số tiền 57.246.575 đồng mà D thu lợi bất chính cùng số tiền 5.753.425 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà D có được, chị T chị H và D đã chi tiêu cá nhân hết nên chưa có khả năng nộp lại.
Bản cáo trạng số 90/CT-VKS-TPNĐ ngày 27-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố các bị cáo Trần Đăng D tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng D đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Đăng D về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Đăng D phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 201 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Trần Đăng D 15 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Đăng D thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo
Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS; Căn cứ Điều 5 Nghị quyết số 01 ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 15 và tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0945.903.xxx đã thu giữ của bị cáo.
Truy thu số tiền lãi (theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm) mà bị cáo Trần Đăng D thu được là 5.753.425 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
Truy thu đối với chị Bùi Thị H tiền nợ gốc chưa trả là 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu đối với chị Đỗ Thu T tiền nợ gốc chưa trả là 15.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
Buộc bị cáo trả lại cho chị Bùi Thị H tiền 21.263.014 đồng và trả lại cho chị Đỗ T T 35.983.561 đồng là số tiền thu lợi bất chính (tiền lãi vượt quá 20%/năm theo quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015)
Buộc bị cáo Trần Đăng D nộp án phí.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đăng D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các giấy tờ tín chấp giữa bị cáo D chị H chị T ảnh chụp màn hình điện thoại, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 15-10-2022 đến ngày 18-01-2024 bị cáo Trần Đăng D cho chị Bùi Thị H chị Đỗ Thu T tổng số tiền là 25.000.000 đồng, với mức lãi suất 216%/năm, thu được tổng số 63.000.000 đồng tiền lãi. Trong đó: số tiền lãi theo mức cao nhất quy định của khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm của tổng số tiền vay là 5.753.425 đồng; số tiền lãi thu lợi bất chính vượt quá quy định của khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 57.246.575 đồng
Hành vi của bị cáo Trần Đăng D nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thu lợi bị cáo vẫn vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo Trần Đăng D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Trần Đăng D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Đăng D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng D là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn T bị cáo là người có nhân thân xấu nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Trần Đăng D giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt
Xét thấy bị cáo Trần Đăng D có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Trần Đăng D đơn trình bày gia đình hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Truy thu số tiền lãi (theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm) mà bị cáo Trần Đăng D thu được là 5.753.425 đồng (Năm triệu bảy trăm năm ba nghìn bốn trăm hai lăm đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Truy thu đối với chị Bùi Thị H tiền nợ gốc chưa trả là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu đối với chị Đỗ Thu T tiền nợ gốc chưa trả là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS2A 071594;
Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại số 0945.903.xxx được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS4 2191912.
Đối với giấy phép lái xe và giấy chứng minh nhân dân mang tên Bùi Thị H khai sinh và bộ hồ sơ đề nghị cấp phép lái xe của chị Đỗ Thu T là các giấy tờ hợp pháp thuộc sở hữu của chị H chị T cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N trả lại cho chị T chị H đúng quy định của pháp luật
[7] Về nghĩa vụ dân sự:
Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 bị cáo Trần Đăng D thu của chị Bùi T H số tiền 21.263.014 đồng và chị Đỗ Thu T tiền 35.983.561 đồng thì Hội đồng xét xử buộc bị cáo trả lại cho người vay
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Đăng D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (tương ứng với số tiền phải trả cho chị Bùi Thị H chị Đỗ Thu T theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Đăng D phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Đăng D năm (một năm) cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ trước đó từ ngày 18-01-2024 đến ngày 26-01-2024. Thời hạn tính từ ngày Toà án giao Quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với Trần Đăng D UBND phường L, tỉnh Nam Định để giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Khoản 3 điều 100 của Luật thi hành án hình sự
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Đăng D thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ
2. Xử lý vật chứng
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Truy thu số tiền lãi (theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 20%/năm) mà bị cáo Trần Đăng D thu được là 5.753.425 đồng (Năm triệu bảy trăm năm ba nghìn bốn trăm hai lăm đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Truy thu đối với chị Bùi Thị H tiền nợ gốc chưa trả là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Truy thu đối với chị Đỗ Thu T tiền nợ gốc chưa trả là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS2A 071594;
Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại vinaphone được niêm phong trong túi niêm phong có mã số NS4 2191912.
3. Nghĩa vụ dân sự:
- Căn cứ Điều 123; Điều 130; Điều 131; Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
Buộc bị cáo trả lại cho chị Bùi Thị H tiền 21.263.014 đồng (Hai mươi mốt triệu hai trăm sáu ba nghìn không trăm mười bốn đồng); trả lại cho chị Đỗ T T 35.983.561 đồng (Ba mươi lăm triệu chín trăm tám mươi ba nghìn năm trăm sáu mốt đồng)
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
4. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Đăng D nộp án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải trả cho những người vay tiền. Cụ thể: án phí tương ứng với số tiền phải trả cho chị Bùi Thị H 1.063.000 đồng, (một triệu không trăm sáu ba nghìn đồng, đã làm tròn); án phí tương ứng với số tiền phải trả cho chị Đỗ Thu T là 1.799.000 đồng, (một triệu bảy trăm chín chín nghìn đồng, đã làm tròn). Tổng cộng là 2.862.000 đồng (hai triệu tám trăm sáu hai nghìn đồng)
Bị cáo Trần Đăng D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Đăng D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị H chị Đỗ Thu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
