TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 87/2024/HSST. Ngày: 15/11/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Thái.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Nam – Bà Thân Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo: Phạm Bá B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17/3/1993 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Phạm Bá C, sinh năm 1965, con bà Đặng Thị V, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh em.
- Tiền án: 01; Tại bản án HSST số 210/2022 ngày 26/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt B 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/8/2023 đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại bản án HSST số 50/2011 ngày 06/9/2011 Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt B 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 28/5/2013 đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Ông Dương Văn K, sinh năm 1974; Trú tại: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Ông Ngọ Q, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Bá B là người nghiện chất ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 10 giờ ngày 03/8/2024, B đi bộ từ nhà ra đường T đi nhờ xe đạp của người đi đường sang chơi nhà bạn của B ở khu vực xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 10 giờ 25 phút cùng ngày khi đi qua khu vực cổng nhà của anh Dương Văn K, sinh năm 1974, trú tại xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì B xuống xe đi bộ, B nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ BKS 33N3-2599 của anh K dựng ở trong sân, chìa khoá xe mô tô vẫn cắm ở ổ khóa. Quan sát thấy cổng khoá, không có ai có ở nhà nên B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng. B đi đến phía hàng rào lưới sắt bên trái cách cổng nhà anh K dùng chân đạp đổ rào sắt đi vào trong sân nhà anh K đến vị trí để xe mô tô mở khoá điện, đề nổ và điều khiển chiếc xe mô tô trên đi qua lối hàng rào sắt vừa đạp đổ. Khi B ra khỏi hàng rào sắt thì bị ông Ngọ Q, sinh năm 1957, trú tại xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện giữ lại gọi điện báo sự việc đến Công an xã B, huyện P đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với B, tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ, BKS 33N3-2599 cùng 01 chìa khoá của xe. Sau đó vụ việc đã được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất Camera an ninh của nhà anh K và mở video từ trong thẻ nhớ xác định hình ảnh của B lén lút vào nhà anh K trộm cắp xe mô tô như đã nêu trên.
Ngày 04/8/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P yêu cầu định giá giá trị của chiếc xe mô tô biển kiểm soát BKS 33N3 -2599 Bắc trộm cắp của anh K. Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận giá trị của xe mô tô BKS 33N3-2599 là 2.740.000 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Bá B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên, lời khai của B là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, đơn trình báo của bị hại, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ, Video camera an ninh thu giữ tại nhà người bị hại là anh K, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe môtô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ, BKS 33N3 -2599, số máy HC09E - 5162032, số khung RLHHC09075Y557431 cùng 01 chìa khoá xe cho người bị hại là anh Dương Văn K quản lý sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Dương Văn K không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSPB ngày 09/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Phạm Bá B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Bá B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Dương Văn K không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại xe môtô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ, BKS 33N3 -2599, số máy HC09E - 5162032, số khung RLHHC09075Y557431 cùng 01 chìa khoá xe cho người bị hại là anh Dương Văn K quản lý sử dụng. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng ăn năn hối hận vì hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn bộ các chứng cứ, ý kiến đề nghị của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo; bị hại, người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với nội dung trình báo, biên bản sự việc, sơ đồ hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng tạm giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Bị cáo Phạm Bá B là đối tượng có nhân thân xấu, do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên vào ngày 03/8/2024 tại xóm Đ, xã B, huyện P, bị cáo B đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a màu đỏ, BKS 33N3-2599, có tổng giá trị là 2.740.000 đồng của anh Dương Văn K, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Về phần trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Dương Văn K không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm.
Hội đồng xét xử xác định: Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Nhưng vì lòng tham, lợi dụng sự sơ hở của người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo B đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự do bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích.
[5]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo B có nhân thân xấu, nên cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo khi xét xử.
[6]. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo B không có công ăn việc làm ổn định, không có tài sản gì. Do đó xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Dương Văn K không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
[9]. Về vật chứng: Đã giải quyết xong.
[10]. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng pháp luật:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Bị cáo Phạm Bá B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Phạm Bá B 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Đã giải quyết xong.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Bá B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cứ trú cuối cùng của bị hại.
Nơi nhận:
TAND TỈNH THÁI NGUYÊN TAND HUYỆN PHÚ BÌNH | TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm ng Thái CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ...... giờ ...... ngày 15 tháng 11 năm 2024.
Tại: Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Nam – Bà Thân Thị Quyên.
Tiến hành nghị án vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 83/TLST- HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với Bị cáo: Phạm Bá Bắc; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện tại: Xóm Đoàn Kết, xã Đào Xá, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
- Bị hại: Ông Dương Văn Khiết, sinh năm 1974; Trú tại: Xóm Đồng Áng, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng: Ông Ngọ Quang, sinh năm 1957;
Nơi cư trú: Xóm Đồng Áng, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO
LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT
ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN
NHƯ SAU:
1. Vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Phạm Bá Bắc không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đủ căn cứ và điều kiện đưa vụ án ra xét xử.
Biểu quyết: Hai vị HTND và chủ tọa biểu quyết 3/3 (100%).
2. Về tội danh: Qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác trong vụ án. Sau khi nghe bản cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định bị cáo Phạm Bá Bắc phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Biểu quyết: Hai vị HTND và chủ tọa biểu quyết 3/3 (100%):
3. Về điều luật áp dụng: Biểu quyết: Hai vị HTND và chủ tọa biểu quyết 3/3 (100%):
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
3. Về mức hình phạt: Biểu quyết: Hai vị HTND và chủ tọa biểu quyết 3/3 (100%):
3.1. Về tội danh: Bị cáo Phạm Bá Bắc phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
3.2. Về hình phạt: Xử phạt Phạm Bá Bắc 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3.3. Về vật chứng: Đã giải quyết xong.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Bá Bắc phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nộp ngân sách nhà nước.
- Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Nghị án kết thúc hồi ...... giờ ...... ngày 15 tháng 11 năm 2024..
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Bản án số 87/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 87/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
