|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 87/2024/DS-ST. Ngày: 12-7-2024. V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Đông
- Ông Nguyễn Văn Du
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Viết Xuân Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 748/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm: 1964; thường trú tại: Tổ C, Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn M, sinh năm 1976; thường trú tại: Tổ A, ấp V, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 23/11/2023), có mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH Ẩ; trụ sở: Số F, đường Đ, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đặng Tấn P, sinh năm 1958; thường trú tại: Số B, Tổ E, Ấp A, xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 01/5/2024), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 11 năm 2023, nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc C trình bày:
Khoảng đầu tháng 12/2022, bà Dương Thị N là giám đốc Công ty TNHH Ẩ, trụ sở: Số F, đường Đ, khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương có đến nhà ông C liên hệ ông C để cung cấp nguyên liệu thực phẩm phục vụ nấu ăn nhà bếp cho Công ty G thuộc khu công nghiệp N, tỉnh Bình Phước. Đến ngày 14/02/2023, bà Dương Thị N trực tiếp đến nhà ông C thông báo ngưng cung cấp hàng thực phẩm kể từ ngày 15/02/2023, do Công ty G chấm dứt hợp đồng nấu ăn và đồng thời hai bên đối chiếu sổ sách chứng từ, công nợ hàng thực phẩm với tổng số tiền công ty Ẩ còn nợ ông C là 516.829.000 đồng, bà Dương Thị N nhiều lần hứa hẹn trả nhưng vẫn không trả tiền cho ông C. Đến ngày 02/7/2023 giữa ông C và công ty Ẩ (do bà N làm giám đốc) có văn bản cam kết phương án thanh toán công nợ kể từ ngày 18/7/2023 đến 18/01/2024, theo đó mỗi tháng thanh toán cho tôi 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên ngày 18/7/2023 Công ty Ẩ có chuyển trả cho ông C 50 triệu (có chứng từ chuyển khoản kèm theo) đến nay không trả nữa, sau rất nhiều lần nhắc nợ và yêu cầu trả nợ nhưng công ty Ẩ vẫn không thực hiện trả nợ mà còn cố tình trốn tránh, không nghe điện thoại cũng như không cho ông C vào công ty để liên hệ yêu cầu thanh toán công nợ. Vì vậy Công ty TNHH Ẩ vi phạm phương án thanh toán công nợ ngày 02/7/2023. Vì vậy để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho ông C.
Nay ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau đối với bị đơn:
- Buộc Công ty TNHH Ẩ phải có trách nhiệm trả cho ông C số tiền 466.829.000 đồng.
- Buộc Công ty TNHH Ẩ phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ tháng 08/2023 đến nay (04 tháng) theo lãi suất do Ngân hàng N1 quy định do quá hạn thanh toán, tạm tính số tiền 3.200.000 đồng
Tổng công số tiền yêu cầu Công ty TNHH Ẩ phải trả cho ông C là 470.029.000 đồng (bốn trăm bảy mươi triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng).
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là: Giấy phương án thanh toán công nợ ngày 02/7/2023
* Người đại diện theo pháp luật của bị đơn – bà Dương Thị N trình bày: Bà N xác định có mua của ông C hàng hóa thực phẩm còn nợ lại ông C số tiền 466.829.000 đồng.
Hiện nay Công ty TNHH Ẩ đang gặp khó khăn nên bị đơn xin thanh toán mỗi tháng 20.000.000 đồng và không trả lãi suất. Thời gian trả tính từ ngày 20/4/2024.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền nợ do mua hàng hóa thực phẩm đây là nghĩa vụ của bị đơn trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.
[2] Về nội dung vụ án: Giữa nguyên đơn và bị đơn đều xác định từ 12/2022 đến 14/02/2023 nguyên đơn có bán hàng thực phẩm (suất ăn công nghiệp) cho bị đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng hai bên không tranh chấp về chủng loại, chất lượng, giá và phương thức thanh toán mà đã tiến hành xác nhận công nợ với nhau và lên phương án trả nợ ngày 02/7/2023. Giấy xác nhận nợ hai bên thống nhất bị đơn còn nợ lại nguyên đơn số tiền 516.829.000 đồng. Thời hạn trả nợ được thỏa thuận như sau:
Từ ngày 18/7/2023 đến 18/10/2023 mỗi tháng trả 50.000.000 đồng.
Từ ngày 18/11/2023 đến 18/01/2024 cân đối tiền sẽ trả hết.
Đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Sau khi hai bên xác nhận nợ với nhau thì đến ngày 18/7/2023 bị đơn có trả cho nguyên đơn 50.000.000 đồng. Số nợ còn lại bị đơn không thanh toán.
Xét thấy việc giao kết hợp đồng giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện. Nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ của người bán là giao hàng đầy đủ, đúng số lượng và chất lượng. Bị đơn là người mua hàng đã nhận hàng hóa thì có trách nhiệm thanh toán tiền sau khi nhận hàng nhưng bị đơn không thực hiện là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Nguyên đơn có thể khởi kiện bị đơn để yêu cầu bị đơn thanh toán. Tuy nhiên nguyên đơn và bị đơn tiến hành xác nhận nợ với nhau. Nguyên đơn đã tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ bằng việc giãn nợ cho bị đơn theo mốc thời gian nhưng bị đơn vẫn không thực hiện. Do vậy việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ 466.829.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.1] Về yêu cầu thanh toán lãi của nguyên đơn đối với bị đơn thấy rằng: Theo thỏa thuận tháng 8/2023 bị đơn trả nợ nhưng không thực hiện nên xác định đây là thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 BLDS tương ứng mức lãi suất 10%/năm.
3
Từ tháng 8/2023 đến tháng 7/2024 tương ứng 11 tháng
Tiền lãi 11 tháng là 466.829.000 đồng x 0,83%/tháng x 11 tháng = 42.621.488 đồng.
Tổng cộng lãi và gốc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn: 466.829.000 đồng + 42.621.488 đồng = 509.450.488 đồng.
[2.2] Từ những nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 430, 431, 432, 433, 434, 440, 357, 468 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc C đối với bị đơn - Công ty TNHH Ẩ, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán".
Buộc Công ty TNHH Ẩ có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Ngọc C số tiền 509.450.488 đồng (năm trăm lẻ chín triệu bốn trăm năm mươi nghìn bốn trăm tám mươi tám).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 24.378.020 đồng (hai mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn không trăm hai mươi). Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 11.401.000 đồng (mười một triệu bốn trăm lẻ một nghìn) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0000546 ngày 05/12/2023.
3/ Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
4
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huỳnh Minh Trí |
5
Bản án số 87/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 87/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
