Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 11-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thoảng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST- HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lý Ngọc L

sinh ngày: 21/10/1984; Nơi sinh: Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nơi tạm trú: Phòng trọ số A B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Lý Ngọc T (sinh năm: 1953, còn sống); Họ tên mẹ: Trương Thị T1 (sinh năm: 1953, còn sống); Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ hai; vợ Dương Thị T2 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  1. Trần Thị Thanh T3, sinh năm: 1965; Địa chỉ cư trú: Số nhà H N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  2. Nguyễn Tuấn A, sinh năm: 1974; Địa chỉ cư trú: Số nhà C đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  3. Lê Hồ Thanh T4, sinh năm: 1985; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  4. Huỳnh Đinh N, sinh năm: 1968; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  5. Nguyễn Văn T5, sinh năm: 1973; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
  6. Biện Văn N1, sinh năm: 1968; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  7. Nguyễn Thị T6, sinh năm: 1961; Địa chỉ cư trú: Số nhà F đường H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  8. Lê Đức K, sinh năm: 1976; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường Đ, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng.

(Tất cả đều vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trương Minh H, sinh năm: 1976; Địa chỉ cư trú: Số nhà D đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  2. Phạm Hải L1, sinh năm: 1960; Địa chỉ cư trú: Số nhà E đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  3. Nguyễn Hải V, sinh năm: 1981; Địa chỉ cư trú: Số nhà H đường H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  4. Tạ Thị T7, sinh năm: 1968; Địa chỉ cư trú: Số nhà A đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  5. Trương Đ, sinh năm: 1959; Địa chỉ cư trú: Số nhà C đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
  6. Võ Trần Thanh N2, sinh năm: 1983; Địa chỉ cư trú: Số nhà C đường N, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng.

(Tất cả đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05/3/2024, Lý Ngọc L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave BKS: 43T1-0745 đi từ phòng trọ số A B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng đến trước số nhà A đường Đ, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Khi đến trước nhà, L thấy 01 (một) cây mai, loại mai xuân, cao khoảng 01m, đường kính gốc 10cm (cây số 13), để phía trước có dây xích bằng sắt khóa cây mai vào một gốc cây của ông Lê Đức K. Sau khi quan sát thấy không có người, L dùng kìm cộng lực cắt đứt xây xích, dùng rựa chặt ngang ngọn cây và dùng tay nhổ cây mai trong chậu lên thì chậu cây bị ngã và bể hoàn toàn. Cây mai trị giá 8.000.000 đồng.

Ngoài ra, với phương thức như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, tại địa bàn quận C và quận H, thành phố Đà Nẵng, Lý Ngọc L đã thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng đầu tháng 12/2023, tại số nhà H N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của bà Trần Thị Thanh T3 01 cây mai, loại mai Bình Định, cao khoảng 01m, trị giá 2.583.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào ngày 15/12/2023, tại số nhà C đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của anh Nguyễn Tuấn A 01 cây mai loại hồng diệp, chiều cao khoảng 02m (cây số 04), trị giá 4.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng tháng 12/2023, tại trước số nhà A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Lê Hồ Thanh T4 01 cây mai, loại mai Bình Định, cao khoảng 02m, trị giá 2.833.000 đồng.

Vụ thứ tư: Ngày 23/12/2023, tại trước số nhà A đường P, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Huỳnh Đinh N 01 cây mai, loại mai xuân, cao khoảng 90cm (cây số 19), trị giá 4.500.000 đồng.

Vụ thứ năm: Ngày 23/01/2024, tại trước số nhà A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Nguyễn Văn T5 01 cây mai, loại mai hồng diệp, cao khoảng 1m8 (cây số 07), trị giá 6.167.000 đồng.

Vụ thứ sáu: Ngày 28/01/2024, tại số nhà A đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Biện Văn N1 01 cây mai, loại mai cúc, cao khoảng 2m, ngang 1m6 (cây số 03), trị giá 5.500.000 đồng.

Vụ thứ bảy: Ngày 18/02/2024, tại số nhà A đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp thêm của ông Nguyễn Văn T5 01 cây mai, loại mai mai hồng diệp, cao khoảng 1m8 (cây số 11), trị giá 5.833.000 đồng.

Vụ thứ tám: Khoảng cuối tháng 02/2024, tại trước số nhà F đường H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của bà Nguyễn Thị T6 01 cây mai, loại mai Bình Định, cao khoảng 90cm (cây số 01), trị giá 2.500.000 đồng.

Lý Ngọc L thực hiện hành vi trộm cắp 09 vụ, tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt được theo kết luận định giá là 41.916.000 đồng.

Ngoài các vụ trộm cắp nêu trên, Lý Ngọc L còn trộm cắp 06 cây mai khác của người dân, cụ thể:

Lần 01: Đầu tháng 5/2023, tại trước số nhà D đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Trương Minh H (sinh năm: 1976, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, loại mai hồng diệp, cao khoảng 1m2 trị giá 1.867.000 đồng.

Lần 02: Cũng vào đầu tháng 5/2023, tại trước số nhà E đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Phạm Hải L1 (Sinh năm: 1960, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, loại mai Bình Định, cao khoảng 01m (cây số 20) trị giá 983.000 đồng.

Lần 03: Vào tháng 6/2023, tại trước số nhà H đường H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Nguyễn Hải V (Sinh năm: 1981, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, loại mai B (cây số 05) trị giá 750.000 đồng.

Lần 04: Vào tháng 10/2023, tại trước số nhà A đường T, phường H, quận C, L trộm cắp của bà Tạ Thị T7 (Sinh năm: 1968, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, loại mai B (cây số 15) trị giá 1.567.000 đồng.

Lần 05: Vào cuối tháng 11/2023, tại trước số nhà C đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Trương Đ (Sinh năm: 1959, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, loại mai Hồng diệp, cao khoảng 1m2 (cây số 02) trị giá 1.733.000 đồng.

Lần 06: Vào ngày 03/03/2024, tại trước số nhà C đường N, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng, L trộm cắp của ông Võ Trần Thanh N2 (Sinh năm: 1983, trú tại địa chỉ trên) 01 cây mai, cao khoảng 90cm (cây số 21) trị giá 1.035.000 đồng.

Toàn bộ số cây mai đã trộm cắp được, Lý Ngọc L mang về nuôi trồng tại nhà ở Thôn A, T, T, Quảng Nam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã thu hồi đối với tất cả các cây mai trên.

Vật chứng thu giữ:

  • - 21 cây mai các loại, có nhiều kích thước khác nhau;
  • - 01 kìm cộng lực dài 60 cm;
  • - 01 cây dao rựa dài 40 cm;
  • - 01 cây kéo tỉa cành dài 20 cm;
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 43T1-0745;
  • - 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exceiter, màu vàng đen, BKS: 43Y1-7538 và 01 giấy đăng ký xe;

Bản cáo trạng số 81/CT-VKSCL ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố Lý Ngọc L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lý Ngọc L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Lý Ngọc L đã bồi thường toàn bộ cho người bị hại, các bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đối với các cây mai đánh số 01; 02; 03; 04; 05; 07; 10; 11; 13; 14; 15; 18; 19; 20 và 21 sau khi tạm giữ phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

+ Đối với 01 kìm cộng lực dài 60 cm; 01 cây dao rựa dài 40 cm; 01 cây kéo tỉa cành dài 20 cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 43T1-0745, thuộc sở hữu của Lý Ngọc L, L sử dụng làm phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

+ Đối với các cây mai đánh số 9; 12; 17 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exceiter, màu vàng đen, BKS: 43Y1-7538 (kèm giấy tờ xe) qua điều tra xác định là tài sản của Lý Ngọc L, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho L là có cơ sở.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

* Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo chỉ vì đam mê trồng cây cảnh nhưng không có tiền để mua, bị cáo trộm về nhà để nuôi trồng thỏa mãn đam mê chứ không bán cho người khác, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc con và cha mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 01h 45 phút đến 02h05 phút ngày 05/3/2024, Lý Ngọc L điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave BKS: 43T1-0745 đi từ phòng trọ số A B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng đến trước số nhà A đường Đ, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. Khi đến trước nhà, L thấy 01 (một) cây mai, loại mai xuân, cao khoảng 01m, đường kính gốc 10cm, để phía trước có dây xích bằng sắt khóa cây mai vào một gốc cây của ông Lê Đức K. Sau khi quan sát thấy không có người, L dùng kìm cộng lực cắt đứt xây xích, dùng rựa chặt ngang ngọn cây và dùng tay nhổ cây mai trong chậu lên bỏ lên xe chở về phòng trọ, đến 15 giờ L đem cây mai về nuôi trồng tại nhà ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Theo kết luận định giá, cây mai trị giá 8.000.000 đồng.

Ngoài ra, với phương thức như trên, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 02/2024, tại địa bàn quận C và quận H, thành phố Đà Nẵng, Lý Ngọc L còn thực hiện 08 vụ trộm cây mai khác. Như vậy, Lý Ngọc L đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều người, cụ thể là 09 cây mai các loại, tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt được theo kết luận định giá là 41.916.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu chín trăm mười sáu nghìn đồng). Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 81/CT-VKSCL ngày 23/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

[3.1] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, chỉ vì đam mê của bản thân bị cáo là thích chăm sóc, trồng cây mai nhưng không có tiền để mua nên bị cáo đã nảy sinh ý định thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là cây mai mang về nhà nuôi trồng, chăm sóc để thỏa mãn đam mê, sở thích của mình. Lợi dụng sự sơ hở của các bị hại, để cây mai trên vỉa hè trước nhà, không có người trông coi, bị cáo đã lén lút dùng kìm cộng lực bấm đứt xích sắt buộc cây, dùng rựa chặt ngọn cây rồi dùng tay nhổ cây ra khỏi chậu, bỏ lên xe chở đi. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ nên cần phải xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã hợp tác với Cơ quan điều tra khai rõ thời gian, địa điểm thực hiện hành vi trộm cắp, khai rõ nơi cất giấu cây mai. Đồng thời, bị cáo đã tự nguyện khai ra thời gian, địa điểm 08 lần thực hiện trộm cây mai khác và những cây mai này đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Mặt khác, bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại, các bị hại có đơn bãi nại về dân sự và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “người phạm tội tự thứ” và “người phạm tội thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng; bị cáo chiếm đoạt tài sản (cây mai) của người khác nhằm mục đích mang về nhà nuôi trồng, chăm sóc để thỏa mãn sở thích không nhằm mục đích bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có chỗ ở ổn định. Mặc dù, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội từ hai lần trở lên” nhưng các lần phạm tội đều ít nghiêm trọng và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (b, s, r) được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, năm 2022 bị cáo bị tai nạn giao thông, bị chấn thương sọ não, hiện nay bị mất ngủ, rối loạn tâm thần biệt định khác do tổn thương não, rối loạn chức năng não và bệnh lý cơ thể. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo mà nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo về địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng thỏa đáng.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

[5.1] Tài sản đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

[5.2] Ông Nguyễn Văn T5 yêu cầu Lý Ngọc L phải bồi thường số tiền 12.000.000 đồng do 02 cây mai đã bị Lương tỉa cành, cắt ngọn. Hiện nay bị cáo L đã bồi thường đầy đủ cho ông T5, ông T5 có đơn bãi nại và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với các cây mai đánh số 01; 02; 03; 04; 05; 07; 10; 11; 13; 14; 15; 18; 19; 20 và 21 sau khi tạm giữ phục vụ điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

[6.2] Đối với 01 kìm cộng lực dài 60 cm; 01 cây dao rựa dài 40 cm; 01 cây kéo tỉa cành dài 20 cm là công cụ mà bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[6.3] Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 43T1-0745 thuộc sở hữu của Lý Ngọc L, L sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6.4] Đối với các cây mai đánh số 9; 12; 17 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exceiter, màu vàng đen, BKS: 43Y1-7538 (kèm giấy tờ xe) qua điều tra xác định là tài sản của Lý Ngọc L, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho L là có căn cứ.

[7] Tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Ngọc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Ngọc L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/9/2024.

Giao bị cáo Lý Ngọc L về Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2.1. Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) kìm cộng lực dài 60 cm; 01 (một) cây dao rựa dài 40 cm; 01 (một) cây kéo tỉa cành dài 20 cm.

2.2. Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 43T1-0745.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/8/2024).

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lý Ngọc L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tp Đà Nẵng;
  • - VKSND tp Đà Nẵng;
  • - Công an quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - CCTHADS quận Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lệ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Ngọc L phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger