Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/7/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà :Ông Phan Văn Thể

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Ngọc Côn.

2. Ông Trần Đăng Thanh

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 39/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1999 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 4, X, huyện T, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn L kết hôn với nhau vào ngày 13/11/2017, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh L, anh chị chung sống tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.

Đến tháng 7/2022 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không cùng nhau phát triển kinh tế, anh L nghiện ngập không quan tâm đến gia đình và con cái. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh L đã ly thân từ năm 7/2022 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn L.

- Về con chung: Chị và anh Hoàng Văn L có 02 con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019, các con chung hiện tại đang ở với chị. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Hoàng Văn L tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, anh Hoàng Văn L trình bày: Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn với nhau vào ngày 13/11/2017, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh chị được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và cưới xong chị T về làm dâu ngay nhà anh, anh chị chung sống tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.

Đến năm 2022 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng nhau phát triển kinh tế, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị T khởi kiện ly hôn anh anh hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Hoàng Thị T.

- Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị T có 02 con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019. Trước đây anh có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Hoàng Bảo K, tuy nhiên nay do anh đang chấp hành án nên anh có nguyện vọng để chị T nuôi dưỡng cả 02 con chung, sau này nếu anh chấp hành án xong anh sẽ thay đổi quyền nuôi con bằng một vụ án khác. Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không đề nghị Toà án giải quyết

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/01/2024, cháu Hoàng Bảo A1 trình bày: Cháu là con của bố Hoàng Văn L và mẹ Hoàng Thị T, cháu được biết bố mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án, cháu muốn bố mẹ cháu đoàn tụ để nuôi dậy anh em chúng cháu, tuy nhiên nếu bố mẹ cháu kiên quyết ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Hoàng Thị T.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn L.

Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn L được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh Hoàng Văn L thực hiện quyền này.

Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005950 ngày 19 tháng 01 năm 2024.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị T có đơn xin ly hôn đối với anh Hoàng Văn L. Bị đơn anh Hoàng Văn L có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T và bị đơn anh Hoàng Văn L đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/11/2017. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của chị Hoàng Thị T vợ chồng chị chung sống tình cảm ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng chỉ được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, không cùng nhau phát triển kinh tế, anh L nghiện ngập không quan tâm đến con cái và gia đình. Anh Hoàng Văn L cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không cùng nhau phát triển kinh tế chung và hiện nay vợ chồng không còn tình cảm với nhau, nay chị Hoàng Thị T khởi kiện ly hôn anh anh cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L mâu thuẫn là có thật, việc vợ chồng không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi, không quan tâm đến nhau và không cùng nhau phát triển kinh tế chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hoàng Thị T, cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn L.

[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L có 02 con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019. Khi ly hôn chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L đều thoả thuận thống nhất để chị Hoàng Thị T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019 hiện đang ở với chị Hoàng Thị T các cháu vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường, chị T

và anh L đều thống nhất việc nuôi con chung. Hơn nữa cháu Hoàng Bảo A cũng có nguyện vọng ở với mẹ là Hoàng Thị T do đó cần giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019 là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Hoàng Thị T và anh Hoàng Văn L đều không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005950 ngày 19 tháng 01 năm 2024.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T: Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn với anh Hoàng Văn L.
  2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị T nuôi dưỡng con chung là Hoàng Bảo A, sinh ngày 04/8/2016 và Hoàng Bảo K, sinh ngày 04/10/2019. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét vì đường sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Hoàng Văn L được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh Hoàng Văn L thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Hoàng Thị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005950 ngày 19 tháng 01 năm 2024.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 87/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T và L ly hôn con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger