Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 87/2024/HS-ST

Ngày 11/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Huỳnh Bình

+ Ông Lê Văn Mỳ

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 293/2024/HSST-QĐ ngày 25/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 335/2024/HSST-QĐ ngày 21/5/2024 đối với bị cáo:

Đoàn Văn T, sinh năm 1989, tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Khu E, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn M (còn sống) và bà Phạm Thị M1 (còn sống); tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giữ từ ngày 24/10/2023 đến ngày 02/11/2023.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

- Bà Lê Thị Quỳnh T1, sinh năm 1978

Nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1976

Nơi cư trú: tổ C, ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Trần Thị Kim X, sinh năm 1983

Nơi cư trú: tổ H, khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Bùi Thị Q, sinh năm 1969

Nơi cư trú: tổ A, khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Lê Hồng L, sinh năm 1996

Nơi cư trú: khu phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Phan Thị T2, sinh năm 1959

Nơi cư trú: khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Sơn Thị Ngọc L1, sinh năm 1982

Nơi thường trú: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Nơi cư trú: khu phố E, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1965

Nơi cư trú: tổ C, khu phố A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Huỳnh Thị Thanh V, sinh năm 1975

Nơi cư trú: ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Võ Thị Mỹ L3, sinh năm 1976

Nơi cư trú: tổ F, ấp B, xã H, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bà Vòng Cóng K, sinh năm 1971

Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

- Bùi Văn T3, sinh năm 1991

Nơi thường trú: thôn N, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Nơi cư trú: ấp L, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 8/2023 đến tháng 10/2023, Đoàn Văn T đến địa bàn huyện V, tỉnh Đồng Nai tìm hiểu, tiếp cận và cho nhiều người dân vay tiền với hình thức trả góp ngày, lãi suất dao động từ 304% - 365%/năm, cao hơn từ 15,2 lần đến 18,25 lần so với mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khi có người liên hệ vay tiền, T hỏi địa chỉ nhà của người vay và tìm gặp trực tiếp để xác định nơi ở của họ. Khi người vay có nhu cầu vay số tiền cụ thể thì T thỏa thuận với người vay tiền như sau: Tùy thuộc vào số tiền vay mà người vay phải trả tiền lãi và gốc trong khoảng thời gian 24 ngày đến 25 ngày, số tiền vay được chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng hoặc đưa tiền mặt. Trường hợp chưa hết thời hạn vay, mà người vay muốn xoay vòng vay tiếp thì T sẽ trừ số tiền những ngày chưa trả của lần vay trước (tất toán lần vay trước) và tiếp tục cho vay tiếp theo.

Hình thức T cho vay là trả tiền gốc và tiền lãi theo ngày trong một thời hạn nhất định. Ngoài ra, người vay phải chịu tiền phí của khoản tiền vay cho mỗi lần vay. Trường hợp người vay có nhu cầu vay nhiều, nhưng T không đủ tiền cho vay thì T sẽ góp chung tiền với một số đối tượng khác và chia lợi theo tỷ lệ góp vốn (tiền lãi, tiền gốc thu về chia đều theo tỷ lệ số tiền góp vốn cho vay).

Bằng cách thức như trên từ tháng 8/2023 đến tháng 10/2023, Đoàn Văn T cho 11 người dân trên địa bàn huyện V, huyện T vay tiền với lãi suất cao, cụ thể những người vay tiền của T như sau:

  1. Bà Lê Thị Quỳnh T1 vay 04 lần:
  2. + Lần 1: Ngày 18/9/2023, T cho bà T1 vay 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T1 phải trả cho T là 12.500.000 đồng. T thu lợi 2.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 28/9/2023, T cho bà T1 vay 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T1 phải trả cho T là 12.500.000 đồng. T thu lợi 2.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 10/10/2023, T cho bà T1 vay 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T1 phải trả cho T là 12.500.000 đồng. T thu lợi 2.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 4: Ngày 20/10/2023, T cho bà T1 vay 10.000.000 đồng, theo thoả thuận như những lần vay trước, số tiền bà T1 phải trả cho T là 12.500.000 đồng trong hạn 25 ngày. T thu tiền góp được 05 ngày với tổng số tiền là 2.500.000 đồng (gốc 2.000.000 đồng, lãi 500.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Bà T1 còn nợ T 8.000.000 đồng tiền gốc.

    Tổng cộng bà T1 vay 04 lần của T với số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 8.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 7.561.644 đồng, lãi theo quy định là 438.356 đồng.

  3. Ông Nguyễn Hoàng S vay 03 lần:
  4. + Lần 1: Ngày 26/9/2023, T cho ông S vay 6.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 300.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông S phải trả cho T là 7.500.000 đồng. T thu lợi 1.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 07/10/2023, T cho ông S vay 6.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 300.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông S phải trả cho T là 7.500.000 đồng. T thu lợi 1.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 23/10/2023, T cho ông S vay 6.000.000 đồng, theo thoả thuận như những lần vay trước, số tiền ông S phải trả cho T là 7.500.000 đồng trong 25 ngày. Ông S đã trả trước tiền góp 02 ngày với số tiền là 600.000 đồng (gốc 480.000 đồng, lãi 120.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Ông S còn nợ T 5.520.000 đồng.

    Tổng cộng ông S vay 03 lần của T với số tiền 18.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 3.120.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 2.949.041 đồng, lãi theo quy định là 170.959 đồng.

  5. Bà Trần Thị Kim X vay 03 lần:
  6. + Lần 1: Ngày 23/9/2023, T cho bà X vay 7.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 350.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, tổng số tiền bà X phải trả cho T là 8.400.000 đồng. T thu lợi 1.400.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 304%/năm, gấp 15,2 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 08/10/2023, T cho bà X vay 7.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 350.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, tổng số tiền bà X phải trả cho T là 8.400.000 đồng. T thu lợi 1.400.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 304%/năm, gấp 15,2 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 20/10/2023, T cho bà X vay 10.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 24 ngày, tổng số tiền bà X phải trả cho T là 12.000.000 đồng. T thu tiền góp được 04 ngày với tổng số tiền là 2.000.000 đồng (gốc 1.666.667 đồng, lãi 333.333 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Bà X còn nợ T 8.333.333 đồng.

    Tổng cộng bà X vay 03 lần của T với số tiền 24.000.000 đồng, lãi suất là 304%/năm. T thu được tiền lãi 3.133.333 đồng, trong đó thu lợi bất chính 2.927.306 đồng, lãi theo quy định là 206.027 đồng.

  7. Bà Bùi Thị Q vay 03 lần:
  8. + Lần 1: Khoảng đầu tháng 9/2023, T cho bà Q vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà Q phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Khoảng cuối tháng 9/2023, T cho bà Q vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà Q phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 03/10/2023, T cho bà Q vay 5.000.000 đồng, theo thoả thuận như những lần vay trước, số tiền bà Q phải trả cho T là 6.250.000 đồng trong 25 ngày. Bà Q đã trả tiền góp 21 ngày với số tiền là 5.250.000 đồng (gốc 4.200.000 đồng, lãi 1.050.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Bà Q còn nợ T 800.000 đồng.

    Tổng cộng bà Q vay 03 lần của T với số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 3.550.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 3.355.479 đồng, lãi theo quy định là 194.521 đồng.

  9. Ông Lê Hồng L vay 04 lần:
  10. + Lần 1: Ngày 23/8/2023, T cho ông L vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 29/8/2023, T cho ông L vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 18/9/2023, T cho ông L vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 4: Ngày 07/10/2023, T cho ông L vay 5.000.000 đồng, theo thoả thuận như những lần vay trước, số tiền ông L phải trả cho T là 6.250.000 đồng trong 25 ngày. Ông L đã trả tiền góp 18 ngày với số tiền là 4.500.000 đồng (gốc là 3.600.000 đồng, lãi 900.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Ông L còn nợ T 1.400.000 đồng.

    Tổng cộng ông L vay 04 lần của T với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 4.650.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 4.395.205 đồng, lãi theo quy định là 254.795 đồng.

  11. Bà Phan Thị T2 vay 04 lần:
  12. + Lần 1: Ngày 23/8/2023, T cho bà T2 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 17/9/2023, T cho bà T2 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 06/10/2023, T cho bà T2 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà T2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 4: Ngày 23/10/2023, T cho bà T2 vay 5.000.000 đồng, theo thoả thuận như những lần vay trước, số tiền bà T2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng trong 25 ngày. Bà T2 đã trả trước tiền góp 02 ngày với số tiền là 500.000 đồng (gốc 400.000 đồng, lãi 100.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Bà T2 còn nợ T 4.600.000 đồng.

    Tổng cộng bà T2 vay 04 lần của T với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 3.850.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 3.639.041 đồng, lãi theo quy định là 210.959 đồng.

  13. Bà Sơn Thị Ngọc L1 vay 02 lần:
  14. + Lần 1: Khoảng đầu tháng 9/2023, T cho bà L1 vay 3.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 150.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà L1 phải trả cho T là 3.750.000 đồng. T thu lợi 750.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 01/9/2023, T cho bà L1 vay 3.000.000 đồng, theo thoả thuận như lần vay trước, số tiền bà L1 phải trả cho T là 3.750.000 đồng trong 25 ngày. Bà L1 đã trả trước tiền góp 09 ngày với số tiền là 1.350.000 đồng (gốc 1.080.000 đồng, lãi 270.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Bà L1 còn nợ T 1.920.000 đồng.

    Tổng cộng bà L1 vay 02 lần của T với số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 1.020.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 964.110 đồng, lãi theo quy định là 55.890 đồng.

  15. Ông Nguyễn Văn L2 vay 03 lần:
  16. + Lần 1: Ngày 11/9/2023, T cho ông L2 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Ngày 29/9/2023, T cho ông L2 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L2 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 13/10/2023, T cho ông L2 vay 6.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 300.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền ông L2 phải trả cho T là 7.500.000 đồng. T thu tiền góp được 12 ngày với tổng số tiền là 3.600.000 đồng (gốc 2.880.000 đồng, lãi 720.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Ông L2 còn nợ T 3.120.000 đồng.

    Tổng cộng ông L2 vay 03 lần của T với số tiền 16.000.000 đồng, lãi suất là 365%/năm. T thu được tiền lãi 3.220.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 3.043.562 đồng, lãi theo quy định là 176.438 đồng.

  17. Bà Huỳnh Thị Thanh V vay 01 lần:
  18. Cuối tháng 8/2023, T cho bà V vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà V phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu lợi 1.250.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự, lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật của khoản vay là 68.493 đồng, T thu lợi bất chính 1.181.507 đồng.

  19. Bà Võ Thị Mỹ L3 vay 01 lần:
  20. Ngày 13/10/2023, T cho bà L3 vay 5.000.000 đồng, trả góp mỗi ngày 250.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà L3 phải trả cho T là 6.250.000 đồng. T thu tiền góp được 12 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (gốc 2.400.000 đồng, lãi 600.000 đồng) thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn. Lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật của khoản vay là 32.877 đồng, T thu lợi bất chính 567.123 đồng. Bà L3 còn nợ T 2.600.000 đồng.

  21. Bà Vòng C Khoằn 03 lần vay tiền của Đoàn Văn T, nhưng nguồn gốc số tiền cho vay là của T góp chung với Bùi Văn T3, cụ thể:
  22. + Lần 1: Khoảng tháng 9/2023, T và T3 cho bà K vay 10.000.000 đồng (T góp 5.000.000 đồng, T3 góp 5.000.000 đồng), trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà K phải trả cho T và T3 là 12.500.000 đồng. T và T3 thu lợi 2.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 2: Khoảng đầu tháng 10/2023, T và T3 cho bà K vay 10.000.000 đồng (T góp 5.000.000 đồng, T3 góp 5.000.000 đồng), trả góp mỗi ngày 500.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà K phải trả cho T và T3 là 12.500.000 đồng. T và T3 thu lợi 2.500.000 đồng tương ứng lãi suất cho vay là 365%/năm, gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất được quy định trong giao dịch dân sự.

    + Lần 3: Ngày 22/10/2023, T và T3 cho bà K vay 20.000.000 đồng (T góp 5.000.000 đồng, T3 góp 15.000.000 đồng), trả góp mỗi ngày 1.000.000 đồng trong thời hạn 25 ngày, tổng số tiền bà K phải trả cho T và T3 là 25.000.000 đồng. T và T3 thu tiền góp được 03 ngày với tổng số tiền là 3.000.000 đồng thì hành vi bị phát hiện và ngăn chặn.

    Tổng cộng bà K vay 03 lần với số tiền là 40.000.000 đồng (trong đó T3 góp 25.000.000 đồng, T góp 15.000.000 đồng), lãi suất là 365%/năm. T3 và Trọng thu được tiền lãi 5.600.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 5.293.151 đồng, lãi theo quy định là 306.849 đồng. Ngoài ra T3 và T còn thu phí vay 2.000.000 đồng của bà K. Tổng thu lợi bất chính là 7.293.151 đồng (trong đó T3 thu 5.469.863 đồng, T thu 1.823.288 đồng). Ở lần vay cuối, bà K vay 20.000.000 đồng trả góp được 03 ngày với số tiền 3.000.000 đồng (trong đó 2.400.000 đồng tiền gốc, 600.000 đồng lãi) thì vụ việc bị phát hiện, bà K còn nợ tiền gốc là 17.600.000 đồng (nợ T3 13.200.000 đồng, nợ T 4.400.000 đồng).

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 23/10/2023, Bùi Văn T3 đang thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì bị phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Đến 23 giờ cùng ngày, Đoàn Văn T đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi Cho vay lãi nặng.

(Bút lục số: 22-26, 45-62, 63-67, 68-72, 73-77, 78-79, 80-84, 85-87, 88-93, 94-97, 98-100, 101-104, 105-115, 116-124)

Tang vật vụ án: Thu giữ của Đoàn Văn T: 210.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả Đoàn Văn T số tiền 210.000 đồng.

Đối với Bùi Văn T3 có hành vi góp chung khoản tiền với T cho bà V1 Cóng Khoằn vay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã khởi tố xử lý trong vụ án khác (Bút lục số 15-21).

Cáo trạng số 55/CT-VKSVC ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Đoàn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 (đầu thú) Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo hình phạt: 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng đến 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.

+ Trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo phải trả cho: bà Lê Thị Quỳnh T1 7.561.644 đồng; ông Nguyễn Hoàng S 2.949.041 đồng; bà Trần Thị Kim X 2.927.306 đồng; bà Bùi Thị Q 3.355.479 đồng; ông Lê Hồng L 4.395.205 đồng; bà Phan Thị T2 3.639.041 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 964.110 đồng; ông Nguyễn Văn L2 3.043.562 đồng; bà Huỳnh Thị Thanh V 1.181.507 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 567.123 đồng; bà Vòng C Khoằn 1.823.288 đồng.

- Buộc các ông, bà sau có nghĩa vụ trả tiền gốc còn nợ cho Đoàn Văn T: bà Lê Thị Quỳnh T1 phải trả số tiền 8.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoàng S phải trả số tiền 5.520.000 đồng; bà Trần Thị Kim X phải trả số tiền 8.333.333 đồng; bà Bùi Thị Q1 phải trả số tiền 800.000 đồng; ông Lê Hồng L phải trả số tiền 1.400.000 đồng; bà Phan Thị T2 phải trả số tiền 4.600.000 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 phải trả số tiền 1.920.000 đồng; ông Nguyễn Văn L2 phải trả số tiền 3.120.000 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 phải trả số tiền 2.600.000 đồng; bà V1 Cóng Khoằn phải trả số tiền 4.400.000 đồng.

+ Biện pháp tư pháp: Buộc Đoàn Văn T giao nộp 184.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 1.886.028 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

+ Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Buộc Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ trả tiền cho bị cáo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Từ tháng 8/2023 đến ngày 23/10/2023, tại địa bàn huyện V và huyện T, tỉnh Đồng Nai, Đoàn Văn T thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với lãi suất cao từ 15,2 lần đến 18,25 lần của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thông qua việc cho 11 người dân vay số tiền 184.000.000 đồng, trong đó tiền gốc đã thu được là 148.826.667 đồng, tiền gốc người vay còn nợ là 35.173.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 37.877.169 đồng; số tiền thu lợi theo quy định là 1.886.028 đồng.

Bị cáo đã cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, thu lợi bất chính với số tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng, mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:

- Buộc Đoàn Văn T giao nộp 184.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 1.886.028 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Buộc bị cáo phải trả cho: bà Lê Thị Quỳnh T1 số tiền 7.561.644 đồng; ông Nguyễn Hoàng S số tiền 2.949.041 đồng; bà Trần Thị Kim X số tiền 2.927.306 đồng; bà Bùi Thị Q số tiền 3.355.479 đồng; ông Lê Hồng L số tiền 4.395.205 đồng; bà Phan Thị T2 số tiền 3.639.041 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 số tiền 964.110 đồng; ông Nguyễn Văn L2 số tiền 3.043.562 đồng; bà Huỳnh Thị Thanh V số tiền 1.181.507 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 số tiền 567.123 đồng; bà Vòng C Khoằn số tiền 1.823.288 đồng.

- Buộc các ông, bà sau có nghĩa vụ trả tiền gốc còn nợ cho Đoàn Văn T: bà Lê Thị Quỳnh T1 phải trả số tiền 8.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoàng S phải trả số tiền 5.520.000 đồng; bà Trần Thị Kim X phải trả số tiền 8.333.333 đồng; bà Bùi Thị Q1 phải trả số tiền 800.000 đồng; ông Lê Hồng L phải trả số tiền 1.400.000 đồng; bà Phan Thị T2 phải trả số tiền 4.600.000 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 phải trả số tiền 1.920.000 đồng; ông Nguyễn Văn L2 phải trả số tiền 3.120.000 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 phải trả số tiền 2.600.000 đồng; bà V1 Cóng Khoằn phải trả số tiền 4.400.000 đồng.

[6] Xử lý vật chứng:

Số tiền 210.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai trả cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Do bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền:

3.378.082 đồng (gồm: 7.561.644 đồng x 5% = 378.082 đồng (bà Lê Thị Quỳnh T1) + 300.000 đồng (ông Nguyễn Hoàng S) + 300.000 đồng (bà Trần Thị Kim X) + 300.000 đồng (bà Bùi Thị Q) + 300.000 đồng (ông Lê Hồng L) + 300.000 đồng (bà Phan Thị T2) + 300.000 đồng (bà Sơn Thị Ngọc L1) + 300.000 đồng (ông Nguyễn Văn L2) + 300.000 đồng (bà Huỳnh Thị Thanh V) + 300.000 đồng (bà Võ Thị Mỹ L3) + 300.000 đồng (bà Vòng Cóng K)).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ trả tiền gốc cho bị cáo nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền:

  • + Bà Lê Thị Quỳnh T1: 8.000.000 đồng x 5% = 400.000 đồng.
  • + Ông Nguyễn Hoàng S: 300.000 đồng;
  • + Bà Trần Thị Kim X: 8.333.333 đồng x 5% = 416.667 đồng;
  • + Bà Bùi Thị Q: 300.000 đồng;
  • + Ông Lê Hồng L: 300.000 đồng;
  • + Bà Phan Thị T2: 300.000 đồng;
  • + Bà Sơn Thị Ngọc L1: 300.000 đồng;
  • + Ông Nguyễn Văn L2: 300.000 đồng;
  • + Bà Võ Thị Mỹ L3: 300.000 đồng;
  • + Bà Vòng Cóng K: 300.000 đồng;

[8] Đối với hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Bùi Văn T3 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện khởi tố trong vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điều 35; Điều 47, 48; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Trọng phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
  2. Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn T số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.

  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
  4. Trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
  5. - Buộc Đoàn Văn T giao nộp 184.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 1.886.028 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    - Buộc bị cáo phải trả cho: bà Lê Thị Quỳnh T1 số tiền 7.561.644 đồng; ông Nguyễn Hoàng S số tiền 2.949.041 đồng; bà Trần Thị Kim X số tiền 2.927.306 đồng; bà Bùi Thị Q số tiền 3.355.479 đồng; ông Lê Hồng L số tiền 4.395.205 đồng; bà Phan Thị T2 số tiền 3.639.041 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 số tiền 964.110 đồng; ông Nguyễn Văn L2 số tiền 3.043.562 đồng; bà Huỳnh Thị Thanh V số tiền 1.181.507 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 số tiền 567.123 đồng; bà Vòng C Khoằn số tiền 1.823.288 đồng.

    - Buộc các ông, bà sau có nghĩa vụ trả tiền gốc còn nợ cho Đoàn Văn T: bà Lê Thị Quỳnh T1 phải trả số tiền 8.000.000 đồng; ông Nguyễn Hoàng S phải trả số tiền 5.520.000 đồng; bà Trần Thị Kim X phải trả số tiền 8.333.333 đồng; bà Bùi Thị Q1 phải trả số tiền 800.000 đồng; ông Lê Hồng L phải trả số tiền 1.400.000 đồng; bà Phan Thị T2 phải trả số tiền 4.600.000 đồng; bà Sơn Thị Ngọc L1 phải trả số tiền 1.920.000 đồng; ông Nguyễn Văn L2 phải trả số tiền 3.120.000 đồng; bà Võ Thị Mỹ L3 phải trả số tiền 2.600.000 đồng; bà V1 Cóng Khoằn phải trả số tiền 4.400.000 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  6. Về án phí:
  7. - Bị cáo Đoàn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.378.082 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền:

    • + Bà Lê Thị Quỳnh T1: 400.000 đồng.
    • + Ông Nguyễn Hoàng S: 300.000 đồng;
    • + Bà Trần Thị Kim X: 416.667 đồng;
    • + Bà Bùi Thị Q: 300.000 đồng;
    • + Ông Lê Hồng L: 300.000 đồng;
    • + Bà Phan Thị T2: 300.000 đồng;
    • + Bà Sơn Thị Ngọc L1: 300.000 đồng;
    • + Ông Nguyễn Văn L2: 300.000 đồng;
    • + Bà Võ Thị Mỹ L3: 300.000 đồng;
    • + Bà Vòng Cóng K: 300.000 đồng;
  8. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Hồng Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 87/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 87/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger